Vai Henry Dawson đau nhói vì bị một thùng đạn súng trường đè nặng.
Anh khom lưng, lê từng bước trong một con hẻm hậu nhỏ hẹp ở khu Whitechapel.
Hai bên là tường gạch bị khói dày hun đen sì.
Ở xa, tiếng súng nổ dồn dập, thỉnh thoảng xen lẫn tiếng lựu đạn nổ u uỳnh và những tiếng thét rít chói tai.
“Nhanh lên!
Bên này!
Đừng dừng!
Phía trước, một người đàn ông trung niên mặc quần bảo hộ dính đầy dầu mỡ, cổ buộc dải vải đỏ quay đầu quát.
Gã chỉ còn một cánh tay, ống tay áo trống lắc lư trong gió sớm.
Henry nhận ra đó là Thomson, lão công nhân bến cảng.
Nghe nói mười năm trước lão mất cánh tay phải trong một tai nạn;
ông chủ chỉ bồi thường chút tiền lẻ rồi đuổi thẳng.
Henry cắn răng, rảo bước.
Thùng đạn nặng trịch, cạnh gỗ thô ráp cấn vào vai đau buốt, nhưng anh không dám dừng.
Anh đang vác đạn cho “cách mạng”.
Mọi chuyện vì sao lại thành ra thế này, ngay cả Henry cũng lơ mơ.
Anh vốn tưởng chuẩn bị cách mạng ít nhất cũng phải mười ngày nửa tháng.
Nào ngờ sáng ba ngày trước, anh như mọi khi dậy từ tờ mờ, định băng qua London Bridge đi kiếm việc.
Rồi anh thấy đầu cầu đã chật ních người, cờ đỏ và biểu ngữ giơ lên tua tủa, hô vang:
“Bánh mì và công việc!
Đả đảo bọn hút máu!
Ban đầu anh chỉ thấy bất lực.
Bãi công chẳng khiến đám “ông lớn” nhượng bộ.
Nhưng chẳng mấy chốc, tiếng súng nổ.
Không phải một hai phát, mà là một tràng liền mạch.
Kỵ cảnh sát xông vào đám đông, vung dùi cui;
có người ngã xuống, máu bắn lên mặt đường lát đá cuội.
Trong hỗn loạn, anh bị dòng người cuốn phăng qua cầu.
Đến lúc hoàn hồn thì đã đứng ở rìa khu City London.
Chỗ đó còn loạn hơn:
công nhân mặc áo khoác rách, bốc vác bến cảng tả tơi, phụ nữ vàng vọt gầy gò, thậm chí có những thanh niên trông như sinh viên.
Họ tháo cột đèn đường, lôi xe ngựa, vác bàn ghế, thậm chí cướp cả bao cát ở công trường, dựng lên những công sự tạm bợ giữa phố.
Henry thấy mấy người khiêng ra từng thùng kim loại nặng trịch:
vũ khí.
“Cầm lấy!
Tự vệ!
Bảo vệ cách mạng!
Một gã mặt phủ đầy muội than chẳng nói chẳng rằng nhét vào ngực anh một khẩu súng trường Lee–Metford cũ kỹ.
Henry theo bản năng muốn quẳng đi, nhưng anh nhìn thấy những gương mặt ngơ ngác quanh mình, nhìn thấy nơi góc phố xa xa có mấy kẻ đội mũ quả dưa, ăn mặc tươm tất đang chỉ trỏ rồi cuống cuồng chạy mất… Anh siết chặt khẩu súng.
Ngay sau đó là một tiếng nổ dữ dội như xé toạc cả thành phố.
Về sau anh mới biết đó là cuộc tập kích do “Ủy ban” hoạch định, dấu mốc cách mạng bắt đầu.
Thế là cách mạng cứ mơ mơ hồ hồ nổ ra.
Anh chưa từng bắn súng.
Thực ra, anh còn chẳng biết dùng khẩu súng này thế nào.
Nhưng vài giờ sau, anh tự học được một thứ khác:
vận chuyển.
Vận chuyển bao cát, ván gỗ, gạch đá để gia cố chiến lũy, cố tránh nguy hiểm nhất có thể;
vận chuyển đồ ăn và nước uống;
vận chuyển người bị thương tới những “trạm cứu thương” dựng tạm;
và bây giờ là vận chuyển đạn.
“Để đây!
Nhẹ tay!
Thomson cụt tay chỉ ra phía sau một chiến lũy ghép bằng xe chở than bị lật và cái ghế sô-pha nát.
Ở đó có bảy tám người, già trẻ đủ cả, tay cầm súng, căng thẳng nhìn chằm chằm về phía bên kia chiến lũy.
Chiến lũy chắn ngang một con đường rộng hơn một chút.
Đối diện, cách chừng trăm yard, lờ mờ thấy bóng một chiến lũy khác và những dáng người mặc đồng phục sẫm màu đang thấp thoáng.
Đó là tuyến phòng ngự của đối phương.
Quân đội trung thành với nhà vua?
Cảnh sát?
Hay một lực lượng vũ trang nào khác?
Henry không phân biệt nổi.
London lúc này đã vỡ thành vô số mảnh;
ai khống chế con phố nào thì tùy bên nào đông người hơn, nhiều súng hơn, gan lì hơn.
Henry đặt thùng đạn xuống, đáy gỗ đập lên đá cuội nghe “cộp” một tiếng.
Một thanh niên ngồi sau bao cát lập tức nhào tới, dùng lưỡi lê nạy nắp, vớ lấy những viên đạn vàng óng rồi nhét vào túi mình, đồng thời chia cho người cạnh bên.
“Tiết kiệm!
Ngắm kỹ rồi bắn!
” Thomson gầm lên, nhưng tiếng gào yếu ớt giữa những loạt súng lẻ tẻ không dứt.
“Thomson!
” Có người phía bên kia chiến lũy gọi, “Bên ‘Ủy ban’ cho người tới!
Khu nhà thờ St George có việc, gọi ông qua đó!
“Ủy ban?
Phiền phức thật…”
Miệng thì càu nhàu, nhưng lão vẫn vẫy vẫy tay với Henry và mấy người khiêng vác khác:
“Mấy đứa tiếp tục quay lại chỗ cũ mà vác!
Đạn dược, đồ ăn, băng gạc, cái gì cũng được!
Cẩn thận đạn lạc!
” Nói xong, lão cúi rạp người, bám theo chân tường chạy vụt về phía đầu kia con phố.
Henry thở hắt, xoa xoa vai cổ mỏi nhừ.
Anh cùng mấy người khiêng vác khác:
một nữ công nhân dệt may tên Martha chạy khỏi xưởng;
một lão thợ mộc thất nghiệp lâu ngày tên Joe;
còn có một gã lực điền ít nói, không biết từng làm gì.
Họ nhìn nhau, rồi lặng lẽ quay đầu, men theo đường cũ trở về “điểm tiếp tế”.
“Điểm tiếp tế” thật ra là một kho vận nhỏ bị trưng dụng ở rìa khu Whitechapel.
Kho vốn thuộc về một thương nhân Do Thái;
ngày cách mạng bùng nổ, y đã dẫn cả nhà chạy mất dạng.
Bây giờ trong kho chất đầy đủ thứ lộn xộn:
bao bột mì, giăm bông, trà;
cuộn vải, hòm thuốc;
nhiều nhất vẫn là vũ khí và đạn dược.
Súng trường kiểu cũ, súng săn, súng lục, thậm chí có cả vài thanh đao cong và giáo dài.
Đạn thì lẫn lộn đủ cỡ, có loại nhìn còn già hơn cả ông nội Henry.
Người quản kho là một gã trung niên đeo kính, tự xưng từng làm thầy giáo tiểu học, ai cũng gọi là “Giáo sư”.
Gã đang ghi chép gì đó vào một cuốn sổ rách, nhíu mày chặt.
“Bên kho đạn còn ba thùng .
303, hai thùng đạn súng lục, chuyển tới chiến lũy phố St Mary.
Lương thực ưu tiên đưa tới nhà thờ St Dunstan, bên đó thương binh nhiều.
Với lại, ai thấy dụng cụ phẫu thuật hay thêm morphine không?
Không ai trả lời.
Martha lí nhí:
“Thưa giáo sư, bên St Mary… em nghe nói hôm qua bọn ‘Mũ Xanh’ đánh dữ lắm, chết nhiều người.
Đường tới đó… có an toàn không?
Giáo sư ngẩng lên:
“Con ạ, giờ cả London không có con đường nào an toàn.
Nhưng ta không đưa đạn tới, bên đó sẽ không trụ được.
Họ không trụ được, ‘Mũ Xanh’ sẽ tràn qua, rồi chỗ này sẽ thành chiến trường tiếp theo.
Chúng ta không có lựa chọn.
Lão thợ mộc Joe lầm bầm câu gì đó, nhưng vẫn cúi xuống vác thùng đạn.
Henry cũng lặng lẽ bước tới.
Anh không có lựa chọn.
Từ lúc nhận khẩu súng ấy, hay nói đúng hơn, từ đêm bị cuốn vào cơn lũ này, anh đã không còn lựa chọn.
Họ nhấc thùng đạn lên, lại bước vào những con phố ngập mùi khói súng và bất an.
Muốn tới phố St Mary phải băng qua mấy đại lộ tương đối rộng.
Những chỗ đó là điểm tranh chấp, cũng là bẫy tử thần.
Họ chọn luồn ngõ hẻm, xuyên qua sân sau, thậm chí bò qua những đống đổ nát nhà cửa bị đánh sập.
Dọc đường thỉnh thoảng gặp xác chết:
có kẻ mặc đồng phục, có kẻ chỉ là quần áo thường dân, nằm đổ trong vũng máu chẳng ai thu dọn.
Ruồi đã bắt đầu bu lại.
Đi qua một ngã tư, tiếng đọ súng dữ dội vọng từ con phố bên trái, đạn réo “vút vút” cắm vào tường gần đó, đá vụn bắn tung tóe.
Cả nhóm vội nằm rạp, áp sát chân tường.
Tim Henry đập như muốn nổ tung;
thùng đạn đè trên lưng khiến anh thấy như bị nghìn cân chẹn xuống.
“Maxim đấy!
” Lão Joe có kinh nghiệm, nghe tiếng là nhận ra, “Mẹ kiếp, chúng điều cả súng máy hạng nặng tới rồi!
Một tràng bắn liên hồi khủng khiếp xé rách không khí, như tấm vải lớn bị giật toạc.
Xa xa có tiếng kêu thảm và tiếng nhà sập ầm ầm.
Đó là âm thanh của súng máy hạng nặng làm mát bằng nước.
Phe khởi nghĩa hầu như chẳng có vũ khí hạng nặng ra hồn;
tốt nhất cũng chỉ là vài khẩu súng máy hạng nhẹ cướp được từ đồn cảnh sát hoặc trang viên tư nhân, mà đạn lại cạn rất nhanh.
Cuộc đấu súng kéo dài chừng mười phút rồi dần lắng xuống, chỉ còn vài tiếng súng trường lẻ tẻ.
Họ đợi một lúc, chắc rằng không còn viên đạn nào bay về hướng này, mới dám tiếp tục.
“Đi!
Nhanh!
” Gã lực điền gầm khẽ, vác thùng lao qua khoảng trống ở ngã tư trước tiên.
Những người khác bám theo.
Phổi Henry đau rát như bốc lửa, nhưng anh không dám dừng.
Cuối cùng họ cũng thấy chiến lũy phố St Mary.
Nơi đó thê thảm hơn hẳn chiến lũy ở Whitechapel.
Một công sự ghép bằng đồ đạc nát, bao cát, gạch đá, thậm chí cả xác một chiếc xe buýt cháy đen, chắn ngang giữa đường.
Sau công sự, bóng người nhốn nháo.
Họ vừa áp sát thì một gã mặt quấn băng thấm máu, chỉ hở một con mắt thò đầu ra, khàn giọng gào:
“Đạn?
Có phải đạn không?
“Có!
303!
” Martha đáp.
“…Nhanh!
Vác vào!
Cả nhóm vừa lăn vừa bò kéo thùng vào sau chiến lũy.
Cảnh tượng ở đây khiến dạ dày Henry cuộn lên.
Chừng hơn ba mươi người chen chúc trong góc tương đối an toàn, gần như ai cũng mang thương.
Người bị thương nặng nằm bệt trên nền lót vải rách, rên rỉ yếu ớt.
Mấy phụ nữ trông như y tá đang dùng băng bẩn và nước sạch xử lý vết thương.
Ở một góc khác, bốn năm cái xác phủ chăn.
Một người đàn ông mặc áo khoác sĩ quan nhưng không đội mũ tiến lại.
Trông gã ngoài ba mươi, râu ria xồm xoàm, hốc mắt trũng sâu, nhưng lưng vẫn thẳng.
Henry nhận ra đó là kiểu “thủy thủ khởi nghĩa”.
“Tôi là thuyền phó ba của tàu ‘Dreadnought’, giờ phụ trách tuyến phòng ngự đoạn này.
Mấy người từ kho tới?
‘Giáo sư’ có lời gì không?
“Ông… ông ấy bảo các anh tiết kiệm, ngắm kỹ rồi bắn.
” Lão Joe lặp lại lời Thomson.
“Ngắm kỹ rồi bắn?
Bọn tôi cũng muốn thế.
Nhưng mấy người biết đối diện là ai không?
Là lão binh lữ đoàn cận vệ, lại còn có xạ thủ giỏi điều từ Scotland Yard.
“Bọn chúng có súng máy, đạn dồi dào, có khi còn có pháo.
Còn bọn tôi thì sao?
“Công nhân, sinh viên, bốc vác bến cảng, thêm vài thủy thủ như tôi không muốn tiếp tục làm bia thịt cho đám ông lớn.
Nhiều người hôm qua mới lần đầu sờ súng.
Ngắm à?
Bắn được ra tiếng đã là may.
Lời gã khiến bầu không khí càng nặng.
Một thanh niên ngồi bệt ở góc tường đột nhiên òa khóc:
“Chúng ta không giữ nổi đâu… họ sẽ giết chúng ta… sẽ chết hết…”
“Im!
Không giữ nổi cũng phải giữ!
” Thuyền phó quát, “Sau lưng là Whitechapel, là nhà của tụi mày!
Là đám anh em công nhân và vợ con họ còn chưa kịp chạy, hoặc chẳng có chỗ chạy!
Chúng ta rút, họ làm sao?
Chờ đám quân của bọn ông lớn tới ‘thanh lọc’ à?
“Đồ để xuống rồi mau quay lại.
Nói với giáo sư, chỗ này cần thêm lựu đạn;
được thì có bom xăng càng tốt.
Thêm lương thực, nhất là nước uống sạch.
Với lại… hỏi xem còn morphine không?
Người của bọn tôi… đau không chịu nổi.
Martha cắn môi, gật đầu.
Rời chiến lũy phố St Mary, tâm trạng họ nặng hơn lúc tới.
Trên đường quay lại, họ vòng qua khu nhà thờ St George.
Tòa nhà cổ kính này giờ đã thành một trong những sở chỉ huy của phe khởi nghĩa trong khu vực.
Hầu hết cửa kính màu của nhà thờ đã bị đạn lạc hoặc vụ nổ làm vỡ, chỉ được đóng tạm bằng ván.
Dưới ngọn tháp nhọn vút, một lá cờ đỏ khổng lồ đang phần phật bay.
Henry và mấy người bị chặn lại ở công sự tạm bợ ngoài vòng nhà thờ.
Một tên ngậm tẩu thuốc, tay đeo băng tay đỏ, trông như đầu mục hỏi vặn mấy câu rồi phất tay cho vào:
“Ủy ban đang họp trong kia, nói nhỏ thôi.
Giao hàng xong thì cút ngay, đừng nhìn đừng nghe.
Họ vác nốt mớ băng gạc cuối cùng vào nhà thờ.
Đại sảnh vốn trang nghiêm giờ nhốn nháo bừa bộn.
Ghế dài bị dồn sang một bên;
trước bàn thờ, người ta ghép vài chiếc bàn khiêng từ nhà dân gần đó, trên mặt trải mấy tấm bản đồ vẽ tay.
Hơn chục người đứng quanh bàn, đang cãi nhau dữ dội.
“…Phải tử thủ từng con phố!
Cho chó săn của bọn ông lớn bước tới đâu cũng phải trả bằng máu!
Whitechapel là pháo đài của chúng ta, là cái nôi của Công xã London!
Lùi một bước là vực sâu vạn trượng!
“Xạo chó!
Jacob!
Tử thủ?
Lấy gì mà thủ?
Lấy thịt xương công nhân tụi tao đi chèn họng súng máy à?
Mẹ nó, mày ra St Mary mà xem!
Xem đám nhóc đó đi!
Chúng còn không giữ nổi khẩu súng!
Thủ?
Là bắt chúng đi chết!
“Đồ hèn!
Burns, mày là đồ hèn!
Cách mạng nào chẳng có hy sinh?
Chiến sĩ Công xã Paris…”
“Công xã Paris thất bại rồi!
Bị tàn sát!
Mày muốn bọn tao cũng biến thành tên trên bia tưởng niệm à?
Một giọng khác xen vào, là một người trông như trí thức.
“Chúng ta không phải đang lãng mạn bắt chước lịch sử!
Chúng ta đang giành giật mạng sống, giành giật tương lai!
Anh em công nhân theo chúng ta vì tin chúng ta có thể đưa họ sống khá lên, chứ không phải tới để làm liệt sĩ!
Công nhân không phải con số đem ra hi sinh!
“Sống khá lên?
Không làm bọn hút máu đau thì chúng cho mày sống khá lên à?
Nằm mơ!
” Jacob gằn giọng, “Chỉ khi chúng biết đau, biết chảy máu, chúng mới chịu ngồi xuống nói chuyện!
Chiến lũy là con bài của chúng ta!
Mỗi chiến lũy là một lưỡi dao cắm thẳng vào tim chúng!
“Lưỡi dao?
Giờ chúng ta là thịt trên thớt!
Chúng có súng máy, có pháo, có chính quy được huấn luyện!
Còn chúng ta có gì?
Vài khẩu súng rỉ sét, đạn còn không khớp!
Cố chọi chiến lũy là lấy trứng chọi đá!
“Thế mày nói làm sao?
Chui như chuột xuống cống đánh du kích?
Dâng Whitechapel cho chúng, rồi nhìn chúng lôi từng người của ta ra treo cổ?
Jacob phản bác.
“Du kích không phải chạy trốn!
Là giữ lực lượng!
” Gã trí thức đẩy kính, “London rộng thế, khu phố phức tạp thế.
Ta quen từng ngõ nhỏ, từng sân sau.
Tách ra, dùng đội nhỏ quấy nhiễu, đánh đường tiếp tế, bắn tỉa, gài thuốc nổ!
Cho chúng chiếm từng tấc đất cũng không yên!
Cho chúng chạy bở hơi tai!
Đó mới là ưu thế của công nhân và dân nghèo thành thị.
Không phải co ro sau chiến lũy chờ bị pháo giã!
“Nói nghe dễ!
Tách ra thì chỉ huy sao?
Liên lạc sao?
Lương thực đạn dược chia sao?
Thương binh thì sao?
Ai bảo vệ đám người già, đàn bà, trẻ con còn chưa đi?
Một lão thủy thủ vẫn im nãy giờ cất giọng đục, “Tập trung lại, ít nhất còn che chở nhau.
Tán ra, lòng người cũng tán, dễ bị đánh từng mảng!
“Tập trung thì thành bia ngắm!
“Tán ra thì thành cô hồn dã quỷ!
Cuộc cãi vã lại bốc lên.
Henry và mấy người khiêng vác đặt băng gạc xuống, nín thở chẳng dám gây tiếng động, chỉ muốn rời nhà thờ càng nhanh càng tốt.
Nhưng tên đầu mục đeo băng tay đỏ lại chặn họ.
“Mấy người, khoan đã.
Còn sức không?
Vác được đồ, biết đường không?
Martha gật rồi lại vội lắc:
“Thưa… chúng tôi chỉ… đem đồ tới thôi.
“Giờ không có ‘chỉ đem đồ tới’.
” Hắn nói.
Hắn hình như tên Barnes.
Hắn bỏ tẩu thuốc, lấy cán tẩu gõ lên mặt bàn, cắt ngang cuộc cãi vã bên kia.
Ánh mắt mấy người thuộc “Ủy ban” cũng tạm bị kéo tới.
Gã trí thức tên Evans, trông mệt mỏi và bồn chồn.
Lão thủy thủ là Cummings, mặt phong sương bụi gió.
“Nghe hết rồi chứ?
Cãi nữa thì đạn ngoài kia cũng chẳng đợi.
St Mary sắp không chịu nổi, đạn dược, thuốc men, nhất là thứ cầm máu, sắp hết sạch.
Không có tiếp tế thì đừng nói tử thủ, đến phản kháng ra hồn còn tổ chức không nổi.
Jacob hừ lạnh:
“Thế thì đi cướp kho của đám nhà giàu!
Ven Whitechapel còn mấy cái…”
“Cướp rồi!
Cái cướp được cướp hết từ lâu!
Cái còn lại hoặc trống trơn, hoặc có gia đinh canh giữ, đánh cứng sẽ trả giá quá lớn.
Với lại, vòng ngoài bị bọn ‘Mũ Xanh’ và người của lữ đoàn cận vệ siết ngày càng chặt, phạm vi hoạt động càng lúc càng nhỏ.
“Mày có chủ ý?
Jacob hỏi gằn.
Barnes bước tới tấm bản đồ vẽ tay đầy dấu và mũi tên, dùng cán tẩu chỉ vào một chỗ.
Henry kiễng chân, nhìn thấy hình như ở rìa đông bắc Whitechapel, sát khu bến cảng, có một con phố được khoanh lại.
“Phố Hanover.
Ở đây trước kia có một kho hàng cỡ vừa, thuộc về một ông chủ xưởng thân chính phủ.
Trước khi nổ súng, hắn đã chuyển không ít hàng đáng giá và thuốc men tới đó, vì nghĩ chỗ ấy xa bọn ta, lại gần bờ sông, có cảnh sát đường thủy hỗ trợ, an toàn hơn.
“Mày biết kiểu gì?
Jacob nghi ngờ.
“Tao có ông anh họ từng làm bốc vác ở đó.
Ngày đầu nổ súng, ổng chạy về.
Ổng nói trong kho ít nhất có lương thực đủ cho một trung đội dùng nửa tháng, còn có một lô thuốc men mới chuyển từ ngoại ô về, chưa kịp phân phát:
bột sulfamid, băng gạc, có thể cả chút morphine.
“Quan trọng nhất là, canh gác không nhiều.
Ông chủ bỏ chạy, chỉ để lại vài tên bảo kê ăn tiền và chưa tới một tiểu đội cảnh sát.
Với lại khu đó ngoằn ngoèo nhiều ngõ, anh em công nhân mình cũng nhiều;
không ít nhà ở ngay bên ấy, địa hình ta quen.
“Tập kích?
Cướp rồi chạy?
“Không hẳn.
Ở đó có một trạm điều áp khí đốt nhỏ.
Bình thường có đội tự vệ công nhân vũ trang.
Nếu ta có thể đồng thời, hoặc chậm hơn một chút, lúc kho hàng bên này ra tay thì bên trạm khí đốt làm chút động tĩnh, kéo sự chú ý của tuần tra gần đó…”
“Dương đông kích tây?
Lão thủy thủ Cummings trầm ngâm.
“Đúng.
Thừa loạn, đánh nhanh vào kho, vơ đồ rồi rút.
Không dây dưa.
Dùng tốc độ nhanh nhất, vác hết thứ vác được:
thuốc men, lương thực, nhất là bột sulfamid và morphine chết tiệt.
Rồi tản ra, rút qua ngõ hẻm.
Phố Hanover không quá xa St Mary.
Giữa đường tuy có mấy ngã bị đối phương kiểm soát, nhưng ta quen đường nhỏ, có thể vòng.
“Rủi ro rất lớn.
Nếu chúng phản ứng nhanh, hoặc quân canh mạnh hơn dự tính, ta có thể mắc kẹt trong đó.
“Ngồi đây chờ chết còn rủi ro hơn!
” Barnes gằn giọng, “St Mary mà mất, tiếp theo sẽ tới nhà thờ!
Không kiếm được thuốc thì anh em bị thương chỉ có chờ chết!
Không kiếm được đồ ăn thì ai cũng phải đói!
Làm!
Barnes nhìn quanh.
Lão thủy thủ Cummings chậm rãi gật:
“Trong đám thủy thủ còn gom được bảy tám thằng ra trò, bắn cũng được, dám liều lưỡi lê.
Evans thở dài, cuối cùng cũng gật:
“Tôi… tôi sẽ tổ chức những người còn chạy được, chuẩn bị tiếp ứng.
Nhưng phải tính kỹ:
ai dẫn đội?
Phân công thế nào?
Đường rút lui phải chắc như đinh đóng cột!
Ánh mắt Barnes lại rơi lên đám khiêng vác, cuối cùng dừng trên Henry và gã lực điền nãy giờ không nói.
“Hai người tên gì?
“Henry… Henry Dawson.
” Henry căng thẳng đáp.
Gã lực điền ồm ồm:
“Người ta gọi tôi là ‘John to con’.
“Được.
Henry, John, với cả mày nữa.
” Barnes chỉ Joe.
“Mấy người rành đường từ nhà thờ tới phố Hanover, nhất là mấy ngõ nhỏ không lọt nổi xe ngựa, đúng không?
Joe gật:
“Tôi làm thợ mộc quanh đây bốn mươi năm, nhắm mắt cũng đi được.
Có những ngõ chỉ mèo với chuột mới biết.
“Tốt.
Ba người, cộng tao, thêm thủy thủ trưởng Cummings và sáu anh em thủy thủ của ổng;
rồi lựa thêm mười thằng dân binh lanh lẹ, gan lì, chân nhanh.
Thủy thủ và dân binh được chọn sẽ là mũi nhọn.
“Henry, ba người tụi mày, với thêm vài người khiêng vác đáng tin, phụ trách vác đồ ngay khi lấy được.
Đường rút do Joe với Henry dẫn.
John to con, mày khỏe, phụ trách yểm hộ và dọn chướng ngại.
“Tôi… tôi không biết dùng súng…” Henry lắp bắp.
Barnes rút từ sau lưng ra một khẩu revolver Webley trông có tuổi, nhét vào tay Henry.
“Giờ học.
Dễ lắm, ngắm vào rồi bóp chỗ này.
Nhưng nhớ, việc chính của mày là khiêng đồ và dẫn đường, không phải bắn.
Trừ khi bất đắc dĩ.
“Evans, mày dẫn phần còn lại, chuẩn bị ở điểm tiếp ứng đã định.
Jacob, mày gọi một tốp tới trạm khí đốt:
không cần đánh thật, chỉ tạo động tĩnh đủ lớn.
Ném vài chai bom xăng, bắn vài phát, rồi lập tức chạy ngược hướng, kéo chúng đi.
Nhớ, nhiệm vụ là quấy rối và hút chú ý, không phải đâm đầu đánh cứng.
Xong việc thì tản ra, rút về khu nhà thờ.
Mệnh lệnh đơn giản thô bạo, nhưng lúc này hình như cũng chẳng còn cách chu toàn hơn.
Cuộc cãi vã dừng lại.
Ai cũng được giao việc;
dù trong lòng có muốn hay không, có sợ hay không.
Henry siết khẩu revolver trong tay.
Cảm giác kim loại lạnh băng lan từ lòng bàn tay lên khắp người.
Anh không còn là kẻ khiêng vác nữa.
Anh giờ là một thành viên “đội tập kích”, phải băng qua vùng giao chiến để cướp vật tư của đối phương.
Một giờ sau, một đội khoảng hai mươi người tập hợp ở một sân hoang phía sau nhà thờ.
Ngoài Henry, lão Joe, John, còn có bốn người khiêng vác khác được chỉ định, đều là hạng dân nghèo khổ như Henry.
Nòng cốt là bảy cựu thủy thủ do Cummings đưa tới.
Họ mặc đồ thường lẫn lộn, nhưng động tác vẫn còn dáng lính;
súng được bảo dưỡng tương đối tốt, chủ yếu là súng trường Lee–Enfield.
Mười người chọn từ dân binh thì vũ khí tạp hơn.
“Nhớ kỹ:
nhanh, gọn, chính xác!
” Barnes nói nhỏ, “Vào trong rồi, thủy thủ và một nửa dân binh khống chế cửa trước cửa sau và điểm cao, dọn lính gác.
Những người còn lại theo Henry và đội khiêng vác, lao thẳng vào kho!
“Thấy hòm thuốc, bao lương thực, nhất là thùng có dấu thập đỏ hay ghi tên thuốc thì ưu tiên vác!
Đừng tham, vác thứ quan trọng nhất!
Anh em không thể chết vì thiếu thuốc!
Chúng ta không thể vô trách nhiệm với họ!
“Xong việc, nghe còi của tao là rút ngay!
Theo đường lúc tới, tản ra luồn ngõ.
Lạc nhau thì cuối cùng rút về khu nhà thờ St George.
Rõ chưa?
Mọi người gật.
Họ như một bầy ma lẩn vào mê cung hẻm nhỏ.
Lão Joe đi đầu dẫn đường;
quả nhiên lão thuộc khu này như lòng bàn tay, toàn chọn lối hẹp vắng, có đoạn còn phải nghiêng người mới lọt.
Xa xa, tiếng súng và tiếng nổ lúc dồn lúc thưa, nhắc họ rằng nơi đây hiểm nguy.
Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng la ó mơ hồ và tiếng bước chân chạy rầm rập, nhưng bị tường che khuất nên không rõ.
Tim Henry cứ treo lơ lửng.
Ngón tay anh siết chặt báng revolver, mồ hôi làm tay trơn nhẫy.
Anh liên tục nhắc lại lời Barnes:
khiêng đồ, dẫn đường, trừ khi bất đắc dĩ thì đừng bắn.
Họ tránh vài trục đường có thể có tuần tra, chui qua sân sau, thậm chí xuyên qua một căn nhà bị nổ sập mất bức tường hậu.
Có lần họ suýt đâm sầm vào một tốp năm sáu người mặc đồng phục.
May lão Joe phản ứng nhanh, kéo cả nhóm chui vào một góc chết chất đầy thùng gỗ bể, nín thở nghe bọn kia vừa chửi rủa vừa chạy vụt qua đầu hẻm.
“Chúng đi tăng viện hướng St Mary.
” Lão Joe thì thào.
Cả nhóm tiếp tục tiến.
Cảm giác căng thẳng bám riết như bóng.
Chừng hai mươi phút sau, lão Joe dừng ở một đầu hẻm chất đầy thùng rỗng, ra hiệu im lặng.
Lão thò đầu nhìn nhanh rồi rụt lại:
“Rẽ phải phía trước là phố Hanover.
Kho hàng ở bên kia đường, có cổng sắt.
Cửa phụ hình như có chòi gác, có người trong đó.
Trên lầu… cửa sổ tầng hai cũng như có bóng.
Barnes gật, liếc đồng hồ quả quýt.
“Bên Jacob chắc sắp làm loạn ở trạm khí đốt.
Tiếng súng vừa nổ, người gác ngoài cổng bị hút mắt, ta xông.
Thủy thủ xử lý địch ở cổng chính và các điểm canh.
Phần còn lại theo tao xông cửa phụ.
Họ nhanh chóng vào vị trí.
Thủy thủ và vài dân binh chuẩn bị đánh cổng chính;
còn cánh khiêng vác cùng ít dân binh, thủy thủ ở sườn, sẵn sàng phá cửa bên rồi yểm trợ chính diện.
Từ xa, phía đông bắc, đột nhiên vang lên mấy tiếng súng giòn tan, rồi một tiếng nổ “ùm” nặng nề.
Ngay sau đó, càng nhiều tiếng súng và tiếng hò hét dồn dập từ hướng đó vọng lại, hỗn loạn và gấp gáp.
Trạm khí đốt ra tay rồi!
“Lên!
Barnes gầm khẽ, là kẻ đầu tiên lao khỏi chỗ nấp, bổ thẳng vào cổng chính kho hàng.
Gần như cùng lúc, Cummings dẫn tổ đột kích gồm mấy cựu thủy thủ cũng xông từ phía bên kia.
“Đoàng!
Đoàng!
Vài phát súng ngắn gọn.
Một cảnh sát trong chòi gác vừa thò đầu ra đã nổ hai đóa máu trước ngực, ngửa mặt đổ xuống.
Cổng sắt bị húc bật;
đội đột kích gào lên xông vào, bên trong lập tức vang tiếng nổ súng, tiếng chửi rủa và tiếng kêu thét.
“Cửa phụ!
Henry, lão Joe, John và mấy người khiêng vác dưới sự yểm hộ của hai dân binh cầm súng trường, lao tới một cửa sắt nhỏ nửa khép nửa mở ở hông kho, trông như cửa bốc dỡ.
John húc một cái, bản lề kêu “két” chói tai, cửa bật mở.
Bên trong là khu chứa hàng chất đầy hòm gỗ và bao tải, ánh sáng lờ mờ, bụi bay mịt.
Hai gã mặc đồ bảo kê đang hoảng hốt chĩa súng săn vừa ló đầu khỏi đống hàng liền bị dân binh yểm hộ bắn “đoàng đoàng” quật ngã một tên.
Tên còn lại hoảng quá vứt súng, ôm đầu ngồi thụp xuống.
“Kho ở phía sau!
” Lão Joe như có chút ấn tượng về chỗ này, chỉ vào một lối đi rồi gào.
Họ cắm đầu chạy dọc hành lang.
Dọc đường lại gặp một kẻ mặt tái mét trốn sau quầy, bị John túm cổ như xách gà con quẳng sang một bên.
Cuối hành lang là một cửa gỗ gài chốt sắt.
Henry và một người khiêng vác khác hợp sức dùng thanh sắt nhặt dưới đất cạy mấy cái, chốt méo mó tuột ra.
John tung một cú đá, cửa gỗ “rầm” một tiếng mở toang.
Trong phòng là không gian khá lớn.
Dãy kệ gỗ và các thùng hàng xếp chồng gần chạm trần.
Nhờ chút ánh sáng từ cửa thông gió cao hắt xuống, có thể lờ mờ thấy trên vài thùng in tiếng Anh ghi tên thuốc, loại thực phẩm.
“Bột sulfamid!
Tôi thấy rồi!
Bên kia!
” Một dân binh mắt tinh chỉ vào mấy thùng gỗ góc phòng có dấu thập đỏ.
“Vác!
Vác thuốc trước!
Rồi tới lương thực!
” Giọng Barnes vọng từ ngoài cửa.
Hắn đang dẫn người dập nốt kháng cự lẻ tẻ trong kho, chỉ huy chặn cửa trước cửa sau, dựng tuyến phòng ngự tạm.
Henry, lão Joe và đội khiêng vác lập tức bổ vào các thùng thuốc.
Thùng nặng, nhưng ý nghĩ anh em đang chờ thuốc cứu mạng đã đè bẹp cơn đau nhức nơi vai.
Họ chia đôi từng cặp, nhấc thùng lên là lao ra ngoài.
“Trên lầu!
Hai người lên lầu xem còn gì không!
” Barnes lại quát.
Henry vừa đặt xuống một thùng thuốc, thở hồng hộc.
Anh liếc lão Joe và John:
họ đang bận vác mấy bao bột mì nặng hơn.
“Tôi lên!
” Henry cũng không biết dũng khí từ đâu ra.
Có lẽ cuộc tập kích thuận lợi vừa rồi cho anh chút tự tin giả;
cũng có lẽ anh thấy mình không thể cầm khẩu súng mà chỉ đứng nhìn.
Anh nắm chặt revolver, men theo tường leo lên một cầu thang gỗ hẹp, rón rén đi lên.
Tầng hai còn tối hơn tầng một.
Chất đống là đồ linh tinh và đồ đạc cũ, không khí ngột ngạt.
Tim Henry lại đập như trống.
Ngón tay anh đặt lên cò lạnh buốt;
mắt cố thích ứng với bóng tối, quét từng góc.
Không động tĩnh.
Có lẽ người trên lầu nghe tiếng súng và tiếng ồn dưới kia nên chạy từ lâu?
Hoặc vốn chẳng có ai?
Anh hơi thở ra, ra hiệu đồng đội chia nhau kiểm tra sau các thùng hàng ở hai bên.
Còn anh bước về phía một cánh cửa nhỏ hé mở, trông như phòng làm việc.
Tay trái cầm súng, tay phải đẩy nhẹ.
Bản lề rít lên tiếng “kèn kẹt” rất khẽ.
Trong phòng càng tối.
Chỉ có một ô thông gió nhỏ phủ bụi dày rọi vào chút ánh sáng.
Thấy được một cái bàn làm việc cũ, vài cái ghế, và mấy tủ sắt đặt sát tường.
Hình như… không có ai.
Sợi dây thần kinh căng của Henry vừa thả lỏng đôi chút, định rút ra.
Có lẽ tầng hai thật sự không có người canh;
họ lo thừa.
Nhưng đúng khoảnh khắc anh xoay người, khóe mắt liếc thấy trong góc tối nhất cạnh tường như có thứ gì nhúc nhích.
Không phải chuột.
Là bóng người!
Henry lập tức căng như dây đàn, thân thể theo phản xạ nhào sang bên.
Phập!
Một vật sắc mang theo luồng gió mạnh sượt qua sườn anh, rạch toạc áo khoác tả tơi thành một đường dài;
da thịt đau rát như bị lửa táp.
Lưỡi lê!
Súng trường gắn lưỡi lê!
Một người đàn ông mặt dính máu và bụi đất lảo đảo lao khỏi bóng tối.
Vì đâm hụt mà mất thăng bằng, suýt ngã.
Rõ ràng hắn bị thương, nhưng ánh mắt đầy điên cuồng.
Hắn gào lên, lại chĩa lưỡi lê về phía Henry vừa lăn dậy chưa kịp đứng vững, đâm thẳng tới!
Nhát này còn ác hơn, nhắm thẳng ngực!
Trong đầu Henry trống rỗng.
Huấn luyện?
Không.
Kinh nghiệm?
Bằng không.
Anh không kịp nghĩ, cũng chẳng kịp ngắm rồi bóp cò.
“Bốp!
Anh chụp lấy thân súng trường suýt lấy mạng mình, ngay trước chỗ gắn lưỡi lê một chút.
Tên kia hẳn không ngờ một gã khiêng vác trông tơi tả lại phản ứng nhanh và khỏe đến vậy.
Đà lưỡi lê bị chặn đứng.
Hắn rên một tiếng, cố giật súng về, hoặc vặn nòng.
Nhưng Henry cắn răng, hai tay như kìm sắt siết chặt thân súng, khớp ngón vì gồng mà trắng bệch.
Anh cảm nhận được sức của đối phương… không quá mạnh, thậm chí còn bủn rủn;
động tác lại chậm chạp, đau đớn rõ ràng.
Phải, hắn bị thương, chắc còn không nhẹ.
Henry cảm nhận sức đối phương đang tuột nhanh.
Tiếng gào biến thành hơi thở hồng hộc đầy đau đớn.
Hai người giằng co trong căn phòng tối.
Tên lính gác bị thương dường như biết mình không đè nổi sức, hắn bỗng giơ chân đá mạnh vào đầu gối Henry.
Henry rên khẽ;
cơn đau buốt truyền lên, gần như đứng không vững, tay cũng lỏng ra một thoáng.
Chỉ một thoáng ấy thôi.
Trong mắt tên lính gác lóe hung quang.
Hắn dồn chút sức cuối cùng, giật mạnh súng về phía sau, đồng thời xoay thân súng, định dùng báng đập thẳng vào đầu Henry!
Nhưng trong cơn đau, bản năng sinh tồn kéo Henry đi.
Anh không buông;
ngược lại, mượn luôn đà giật súng của đối phương mà lao sấn tới, dùng vai húc mạnh vào ngực bị thương của hắn!
“Á…!
Tên lính gác rú lên thê lương.
Đau nhói nơi ngực khiến mắt hắn tối sầm, động tác méo hẳn.
Henry chộp đúng khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, vặn mạnh hai tay, cuối cùng giật phăng súng khỏi tay đối phương!
Chênh lệch lực khiến Henry loạng choạng lùi hai bước.
Khẩu súng trường nặng trịch chắn ngang trước ngực anh.
Còn tên lính gác đối diện ôm ngực chảy máu, dựa tường trượt ngồi xuống, mặt méo mó vì đau và mất máu.
Henry thở hổn hển.
Tim anh đập điên cuồng như muốn phá ***g ngực.
Anh nhìn khẩu súng trong tay, nhìn kẻ dựa tường ngồi bệt, như đã mất khả năng phản kháng.
Nguy hiểm qua rồi sao?
Có lẽ… qua rồi.
Nhưng đúng lúc đó, đôi mắt tên kia chợt sáng lên.
Cổ họng hắn phát ra tiếng khò khè.
Một bàn tay run rẩy lại thò xuống thắt lưng.
Chỗ đó như có vỏ bao lưỡi lê.
Vỏ đã trống, vì lưỡi lê lúc này đang gắn trên khẩu súng Henry vừa giật được.
Nhưng trong mắt Henry đang căng cực độ, adrenaline bốc ngùn ngụt, động tác ấy chẳng khác nào một mối đe dọa chí mạng.
Hắn muốn rút dao!
Hắn còn muốn giết mình!
Theo bản năng, Henry dồn hết sức siết chặt khẩu súng còn dính máu, rồi đâm phập xuống kẻ đã ngồi bệt dưới đất, đang với tay tìm vũ khí.
Thân thể tên lính gác giật dựng lên.
Hai mắt hắn trợn trừng, nhìn chết chằm vào Henry.
Miệng há ra, nhưng không thốt nổi một tiếng.
Trong cổ họng hắn phát ra tiếng “khục khục” nhỏ, khóe miệng trào ra dòng máu đỏ sẫm lẫn bọt.
Bàn tay đang thò xuống thắt lưng bủn rủn rơi xuống.
Thời gian như đông cứng.
Henry vẫn giữ tư thế hai tay cầm súng đâm xuống, chết trân tại chỗ.
Anh nhìn thấy ánh sáng trong mắt đối phương tắt dần:
từ hung hãn, không cam, rồi nhanh chóng tối lại, cuối cùng hóa thành một mảng chết lặng.
Anh… giết người rồi.
Bằng một khẩu súng cướp được, anh dùng lưỡi lê đâm chết một người.
Một người mặc đồ rách rưới như anh, có lẽ cũng vì miếng cơm manh áo mới cầm vũ khí, có lẽ cũng sợ hãi, cũng tuyệt vọng… một con người.
Máu, máu còn ấm, chảy dọc theo nòng súng và ốp gỗ, tràn qua các ngón tay anh.
Dạ dày co thắt dữ dội, vị chua trào lên tận cổ họng.
Anh cố nuốt ngược xuống.
Anh giết người rồi.
Nỗi sợ muộn kéo tới.
Nếu chậm hơn nửa nhịp, nếu đối phương khỏe hơn một chút, nếu cú đá kia trúng hơn… lúc này nằm dưới đất, cổ họng khò khè, bọt máu trào khỏi mép sẽ là chính anh:
Henry Dawson.
Anh sẽ như con gia súc bị làm thịt, chết trong căn gác đầy bụi và đồ bỏ này.
Xác anh có thể phồng lên, mục rữa, đầy giòi bọ, bị vội vã lấp đi, hoặc thẳng tay quăng xuống sông Thames.
Người mẹ già ở quê, sống lay lắt bằng nghề giặt thuê và làm công vặt, sẽ vĩnh viễn không đợi được khoản lương còm anh gửi về.
Bà cũng chẳng đợi được bất cứ tin tức nào về tung tích anh.
Bà sẽ cứ đợi mãi, cho tới khi chết trong nghèo đói và tuyệt vọng, hoặc cho tới một ngày nào đó, một người xa lạ mang tới một tin mơ hồ:
trong cuộc bạo loạn London có một kẻ vô danh, hình như tên Henry.
Anh chợt nhớ hồi bé ở quê, cha từng giết mổ thuê để kiếm tiền.
Tiếng kêu của con vật, dòng máu nóng phun ra, mùi nội tạng tanh tưởi khi moi bụng… Lúc ấy anh luôn trốn xa, thấy tàn nhẫn.
Giờ anh lại thành kẻ đồ tể.
Cái thân thể dưới tay anh còn chưa lạnh hẳn, mấy phút trước vẫn là một con người sống:
biết thở, biết nghĩ, biết đau, biết sợ.
Giờ chỉ còn là một đống thịt xương mềm oặt đang mất dần hơi ấm.
Đốm lửa của sự sống bị chính tay anh bóp tắt.
Anh thậm chí chưa nhìn rõ mặt hắn, không biết tên hắn.
Giữa họ không có thù oán gì.
Đời chó chết này!
Vì sao lại bức một thằng nghèo chỉ muốn kiếm việc nuôi mẹ và nuôi mình phải cầm vũ khí, chui vào cái góc máu me bẩn thỉu này, chỉ vì mấy thùng thuốc có thể cứu mạng, mà phải giết một thằng nghèo khác cũng có thể bị dồn vào đường cùng!
Vì sao?
Dựa vào cái gì?
Chỉ vì họ nghèo, vì sinh ra trong bùn lầy, nên phải như thú dữ trong đấu trường, vì chút cặn bã mà đám ông lớn coi chẳng đáng gì, mà xé nhau tới chết?
Cơn giận đốt rát ***g ngực anh, nhưng anh không thốt nổi lời chửi.
Chỉ có tiếng răng nghiến ken két.
Anh sống.
Kẻ kia chết.
Đơn giản vậy, mà cũng tàn nhẫn vậy.
“Henry?
Henry!
Trên đó thế nào?
Dưới lầu vọng lên tiếng bước chân gấp gáp và tiếng đồng đội gọi khẽ, kèm tiếng cầu thang gỗ kêu cót két như sắp sụp.
Là John;
hắn cầm súng trường, xông lên trước, sau lưng là một dân binh cũng căng thẳng không kém.
Trong ánh sáng mờ, họ thấy Henry đứng đờ ở đó, hai tay chống trên một khẩu súng trường gắn lưỡi lê;
mũi lưỡi lê còn cắm sâu vào khối người mềm nhũn ở góc tường.
Trên sàn, một vũng chất lỏng đỏ sẫm đang loang chậm dưới chân Henry.
“Lạy Chúa…” Dân binh đi theo hít mạnh một hơi lạnh.
Đồng tử John co lại.
Hắn quét nhanh căn phòng làm việc chật hẹp, xác nhận không còn mối đe dọa nào khác, rồi mới nhìn lại Henry.
John bước tới như tên bắn.
Tay trái hắn đỡ chắc cánh tay Henry, tay phải dứt khoát nắm thân súng, hơi dùng lực rút khẩu súng khỏi tay Henry cứng đờ và khỏi xác chết.
Phập—
Lưỡi lê rời khỏi thịt lại kéo theo một tia máu đỏ sẫm, bắn lên ống quần rách của Henry.
Cái xác mềm oặt đổ nghiêng, đập xuống nền phát ra tiếng “bịch” nặng nề.
“Tôi… hắn… hắn muốn giết tôi… dao… hắn sờ dao…” Môi Henry run bần bật.
Anh nói năng lộn xộn, mắt nhìn xác chết góc tường rồi nhìn hai bàn tay bê bết máu của mình.
“Hắn… hắn đâm tôi… tôi…”
John liếc vỏ bao lưỡi lê trống không ở thắt lưng xác chết, lại liếc vết rách nơi sườn Henry đang rỉ máu, đại khái hiểu chuyện.
Hắn không hỏi thêm, chỉ trầm giọng:
“Biết rồi.
Mày giết hắn, hắn chết.
Mày sống.
Xong rồi.
Tên dân binh cũng hoàn hồn, tiến lên kiểm tra nhanh, xác nhận đã chết hẳn.
“Chỉ có hắn.
Chắc hắn bị thương sẵn, trốn ở đây.
Mẹ kiếp, suýt nữa nó chơi bẩn người của ta.
“Dưới lầu vác xong chưa?
John hỏi, đồng thời đỡ Henry, cho anh ngồi xuống một cái ghế cạnh đó.
Henry vừa ngồi thì hai chân mềm nhũn, dạ dày lại quặn như sóng dậy.
“Barnes nói gần xong rồi.
Thuốc và lương thực quan trọng đều vác ra.
Hắn bảo ta nhanh lên, bên trạm khí đốt chắc sắp hết động tĩnh, tuần tra có thể quay lại.
Xuống nói với Barnes:
trên lầu dọn sạch, có người bị thương.
” John liếc vết máu nơi sườn Henry.
“Bọn ta xuống ngay.
Dân binh gật, lại nhìn cái xác và Henry đang ngồi, rồi quay đầu chạy vội xuống.
Trong phòng chỉ còn John và Henry, cùng cái xác ở góc tường đang lạnh dần.
John nhặt khẩu súng trường dính máu dưới đất, dùng áo rách của xác chết lau qua loa lưỡi lê và thân súng, rồi dựa vào tường.
Henry ngồi trên ghế, người còn run nhẹ không kiểm soát.
“Đi được không?
Henry hít sâu một hơi, thử nhúc nhích chân.
Cũng được:
dù bủn rủn, nhưng vẫn chống nổi.
Anh chống tay lên thành ghế, chậm chạp đứng dậy.
Vết rách ở sườn bị kéo, đau khiến anh nhe răng.
John không hỏi nữa.
Hắn bước tới, vắt một cánh tay Henry lên vai, dìu anh ra cầu thang.
Lúc đi qua xác chết, Henry vô thức liếc thêm một cái.
Kẻ đó nằm lệch, mặt nghiêng sang một bên;
mắt vẫn hé, trống rỗng nhìn lên trần.
Máu từ lỗ thủng ở ngực và khóe miệng chảy ra, đọng thành một vũng nhỏ.
Henry giật phắt đầu đi, không dám nhìn nữa.
Họ xuống lầu.
Trong kho tầng một, hỗn loạn lúc nãy đã lắng.
Thủy thủ và dân binh đang kiểm tra và vận chuyển nốt.
Ở một góc tường còn có hai tù binh ôm đầu ngồi thụp, run lẩy bẩy.
Barnes đứng cạnh một đống hòm gỗ vừa được lôi ra, chỉ huy xếp hàng lần cuối.
Thấy John dìu Henry xuống, hắn liếc mặt Henry tái nhợt và vết máu bên sườn, nhíu mày:
“Bị thương?
“Sượt một nhát, không sâu.
” John đáp thay Henry.
“Còn vác đồ được không?
Henry nhìn những thùng đang chờ vác, chứa thuốc cứu mạng và lương thực, rồi nhìn những gương mặt mệt mỏi quanh mình.
Anh biết những thứ này có thể cứu mạng anh em bị thương ở St Mary, có thể giúp mọi người gắng thêm vài ngày.
Anh cắn răng, gật:
Barnes không nói nữa, chỉ tay vào một thùng thuốc nhỏ cạnh đó:
“Vác lên, theo đội.
Rút.
Henry gỡ tay John ra.
Dù chân vẫn mềm, anh vẫn bước tới thùng.
Thùng gỗ lúc này đối với anh nặng khủng khiếp, nhưng anh lại thấy cái nặng trên vai ấy như có thể đè bớt cảm giác buồn nôn đang trào lên trong lòng.
Anh cùng một người khiêng vác khác nhấc thùng, theo đội hình vừa tập kết, lần lượt ra khỏi cửa phụ họ đã chui vào.
Ngoài kho, phố Hanover vẫn vắng toang.
Chỉ có hướng trạm khí đốt ở xa xa còn lác đác tiếng súng và tiếng la.
Barnes ra hiệu.
Đội lập tức tách thành vài tốp, theo tuyến đường đã vạch, lại chui vào mê cung ngõ hẻm, rút về khu nhà thờ St George.
Đường về dường như dài hơn lúc tới.
Thùng trên vai càng lúc càng nặng.
Vết thương bên sườn nhói từng nhịp, khiến Henry muốn ói.
Trong đầu anh hỗn loạn.
Cảnh giằng co hiểm nghèo trên gác cứ lặp đi lặp lại:
cảm giác lưỡi lê đâm vào thịt, đôi mắt trợn trừng của đối phương, và con ngươi dần mất ánh.
Đội hình luồn nhanh qua các ngõ phức tạp, thỉnh thoảng dừng lại để xác định hướng, hoặc né những động tĩnh khả nghi như có tuần tra.
Mỗi lần dừng, tim Henry lại vọt lên cổ.
Anh sợ:
sợ bị đuổi kịp, sợ lại đụng độ, sợ mình… lại phải giết người, hoặc bị giết.
Cuối cùng, họ thấy ngọn tháp nhọn đặc trưng của nhà thờ St George, thấy cờ đỏ phấp phới.
Sau công sự vòng ngoài, có người vẫy họ.
Về tới khu tương đối “an toàn”, sợi dây thần kinh căng chặt đột ngột chùng xuống.
Henry thấy cả người như bị rút cạn sức.
Anh đặt thùng xuống, ngồi phịch xuống đất, há miệng thở gấp.
Mồ hôi lạnh lập tức ướt sũng áo trong.
Trong nhà thờ, Evans và những người khác ra đón.
Thấy họ mang về thuốc men và đồ ăn, nhất là mấy thùng bột sulfamid quý giá, trên gương mặt mệt mỏi của Evans lần đầu lóe lên chút sáng.
“Tốt quá!
Tốt quá!
Bên St Mary có cứu rồi!
Nhanh, chia một phần thuốc, lập tức chuyển qua đó!
Mọi người bắt đầu tất bật phân loại vật tư.
Barnes báo cáo ngắn với Evans:
nói tới lính gác kho hàng, giao chiến nhỏ, và rút lui thuận lợi.
Henry ngồi ở một góc, nhìn người ta chuyển những hòm thuốc anh suýt mất mạng mới đổi được, trong lòng chẳng biết là vị gì.
John bước tới, đưa cho anh một bình nước.
Henry nhận lấy, tu ừng ực mấy ngụm nước lạnh;
cổ họng bớt khô hơn chút.
“Lần đầu ai cũng thế.
” John ngồi xổm bên cạnh, “Quen rồi sẽ ổn.
Hoặc… cố mà đừng quen.
Henry ngẩng lên nhìn John.
“Anh… cũng từng giết người?
John im một lát rồi gật.
“Hồi trước ở châu Phi, làm bảo vệ cho công ty khai mỏ.
Sau đó ở trên tàu.
Thấy nhiều rồi.
Hắn không nói thêm, nhưng Henry hiểu.
John là kẻ từng trải sinh tử;
trên tay hắn chắc không chỉ một mạng người.
Nên hắn mới bình tĩnh xử lý xác chết, mới nói được câu “quen rồi sẽ ổn”.
Nhưng hắn bảo mình “cố mà đừng quen”.
Cố mà đừng quen… Đúng vậy.
Một người mà quen tay giết người… còn là người nữa không?
Henry thấy mệt rã rời, cả thân lẫn tâm.
Nghỉ một lát thôi…
Muốn sống giữa bạo lực, con người buộc phải quen với bạo lực mới sống nổi.
Nhưng nếu thật sự quen hẳn với bạo lực, họ lại đánh mất nhân tính.
Chính những con người đầy mâu thuẫn ấy đã để lại kinh nghiệm và bài học cho kẻ đến sau.
Cũng chính bạo lực của họ khiến đám “ông lớn” trên cao lần đầu biết sợ, biết cân nhắc cảm nhận của người thường, biết thỏa hiệp và cải lương.
Nhân dân có thể phạm sai lầm, có thể bị che mắt;
có lúc họ thậm chí đứng ở phía đối lập với lịch sử.
Nhưng xin đừng trách họ:
họ chỉ là chưa tìm được kẻ thù thật sự.
Kẻ tập kích kia có lẽ chỉ vì vài đồng shilling tiền công mà tự đẩy mình vào hiểm cảnh.
Henry vì miếng cơm mà bị cuốn vào cách mạng.
Giữa họ không có đúng sai trắng đen;
họ chỉ là những dòng chú thích vô danh của thời đại Victoria, hai kẻ đáng thương bị ép đứng đối diện nhau chỉ để sống qua ngày…
Hủy
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.
Không có bình luận.
Đang tải...
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Ghi nhớ đăng nhập