Chương 19 :
Tham Loan Nghênh Ty – Dạ Kiến Ngự Lâm Ngoại thành Ngũ Nguyên.
Gió bấc lùa qua bờ lau, cỏ gianh rạp xuống thành những vệt mờ.
Một đội kỵ mã mở vòng, dồn con nai về khoảng trống giữa đồng;
vó ngựa dập dồn, dây cương leng keng như hạt sương chạm sắt.
Ở mé tả, một viên tướng quân tuổi vừa ngoài hai mươi lăm, gần ba mươi, đứng thế nửa yên nửa đất.
Y kéo cường cung tới tai, vai trĩu, khuỷu khóa, hơi thở ghìm chặt trong ngực;
mục quang ghim thẳng lên lưng thú.
Dây cung run khe khẽ—“tinh”—rồi y buông.
Mũi tiễn xé gió “véo” một đường khô rắn, “phập” vào mép sườn.
Con nai giật choạng, lồng lên mấy bước, tiếng rú xé gió, rồi khuỵu gối, cào hai móng xuống lớp đất ẩm trước khi đổ gục.
Kỵ mã ghìm cương vòng lại, bụi cỏ tung lên như khói mỏng.
Viên tướng hạ cung, giơ tay ra hiệu.
Cánh đồng trở về lặng, chỉ còn tiếng gió xao qua rặng lau và hơi ấm của con thú còn vương trên mặt đất.
"Khá lắm!
Tiễn pháp của Đại công tử đã tiến bộ,” một ky tướng ghìm cương khen khẽ.
Mạnh Thiên Bình hạ cung, khóe môi khẽ giãn:
“Ấy đều nhờ Dương thúc chỉ dạy.
”
“Kẻ mạt tướng nào dám nhận lời quá khen,” người kia cười, “tại hạ chỉ góp chút vụn vặt.
” Bỗng ánh mắt Thiên Bình chùng xuống:
“Ta cố gắng cũng chỉ mong phụ thân có ngày gật đầu.
Luận mưu bàn kế, ta chẳng bằng Nhị đệ;
luận quyền mưu văn chương, lại thua xa Tam đệ.
Chỉ còn cậy vào một cánh tiễn, mong lập được chút danh nơi biên tái.
” Dương Chí nghiêm giọng mà ôn:
“Người người có sở trường.
Công tử chớ nóng.
Ngày mai ra trận, sát địch nơi sa trường, công thành danh toại, tên tuổi ắt vang xa—không thẹn là tử của Mạnh soái.
“Dương thúc khéo nói đùa,” Thiên Bình bật cười, ngón tay gảy nhẹ lên cánh cung như còn nghe dư âm dây tiễn.
“Chỉ mong được như lời thúc.
” Hai người nhìn nhau, cùng bật tiếng cười sảng.
Gió bấc lùa qua rặng lau, trời đã se hơn một nấc.
Dương Chí đưa mắt về phía chân núi, nói chậm:
“Khí trời chuyển rồi—hình như đã chóm đông.
Mong đông này yên bình, biên ải không nổi lửa, thì tốt biết mấy.
“Dương thúc lại đa sầu đa cảm,” Thiên Bình mỉm cười, “phụ thân vẫn bảo:
Dương thúc ngoài lạnh trong ấm, dặn ta theo thúc mà học, chỉ là chớ nhiễm cái mềm đó thôi.
” Cả hai lại cười.
Người kỵ tướng ấy chính là Dương Chí, Tổng binh trấn Ngũ Nguyên Quan.
Chàng giật cương quay ngựa:
“Đi thôi.
Hôm nay tại hạ và Đại công tử xé thịt nai, đối ẩm một đêm mừng một mũi tiễn đẹp.
” Nói dứt, hai người ghì cương quay ngựa.
Đội binh theo hầu đã thắt dây, dắt con nai về trại.
Lò đất nhóm nhanh, dao bén lướt qua lớp bì mỏng;
thịt chia phần, rửa qua rượu, ướp muối thô và hạt thì là.
Một xiên lớn dựng trên giàn sắt, mỡ chảy tí tách rơi vào than, khói thơm quyện gió bấc.
Dương Chí và Mạnh Thiên Bình ngồi đối ẩm bên đầu trại.
Chén rượu sứ va nhau, âm khô giòn.
Thiên Bình vừa xé miếng thịt vừa cười kể mấy trò quấy quả của Nhị công tử:
lúc thì đổi biển hiệu quán rượu chọc chủ quán đỏ mặt, lúc lại giả giọng khách phương Bắc trả giá trái khoáy làm bọn tiểu nhị líu lưỡi.
Dương Chí chỉ nghe mà cười, không trách không khen.
Chung quanh, binh sĩ chia phần, tiếng nói rộn;
mùi thịt nướng và tiếng đàn môi của gã kỵ binh trẻ bên lều hòa vào nhau, doanh trại khoan khoái như có lửa ấm ở giữa.
Cùng lúc ấy, tại đại doanh của Mạnh Thiên Hùng.
Một đội giáo binh đứng sẵn ngoài trướng.
Rèm da thú khẽ lay, một binh sĩ bước nhanh vào, quỳ nửa gối:
“Bẩm Đại tướng quân, ngoài doanh có một nhóm người tự xưng đến từ kinh sư, xin yết kiến.
Nói có việc cơ mật cầu gặp Đại tướng quân.
“Cho vào.
“Tuân lệnh!
” Chừng một khắc sau, một kẻ trùm đầu, khăn che kín diện mạo, theo lính áp dẫn mà tới.
Hắn dừng trước án, rút trong tay áo ra một mộc bài khắc ấn triện, hai tay dâng lên.
Lính đón lấy, bước tới trao.
Mạnh Thiên Hùng liếc một cái, mục quang co lại:
nét khắc bên rìa là dấu riêng của Ngự Lâm.
Y thầm nghĩ:
“Quả nhiên người của bệ hạ.
“Thoái hết ra ngoài.
Trong vòng mấy trượng, không cho ai bén mảng.
” Tiếng giày rút dần.
Trướng im như nín thở.
Kẻ trùm đầu chậm rãi gỡ khăn che, để lộ gương mặt gầy mà rắn:
“Phó thống lĩnh Ngự Lâm—Hàn Quang Nghị, tham kiến Mạnh tướng quân.
” Ánh đèn dầu hắt lên mép đao treo trên cột trướng, lóe một vệt mảnh.
Mạnh Thiên Hùng đặt mộc bài xuống, giọng trầm mà đều:
“Đêm khuya giá lâm, hắn là việc lớn.
Mời ngồi.
” Mạnh Thiên Hùng nâng tay làm lễ, mỉm cười nhã nhặn:
“Hôm nay Hàn đại nhân bất ngờ giá lâm, bổn tướng sơ suất, chưa kịp bày biện, thật lấy làm hổ thẹn.
Xin mời đại nhân dùng chén trà nóng cho ấm người.
Chẳng hay đêm khuya ghé trướng, là vì việc gì?
Hàn Quang Nghị đặt chén, chắp tay hữu lễ:
“Mạnh Đại tướng quân, đêm hôm quấy nhiễu, tại hạ cáo lỗi trước.
Có mật báo dâng lên bệ hạ:
nơi biên cương bắc lộ Lương Châu có kẻ dám thông Hồ, lén buôn binh khí cùng.
muối sắt.
Thánh thượng đã sai Nội xưởng và Cẩm y vệ xuất kinh tra xét;
song long nhan còn bất an, lại lệnh tại hạ bí mật đi trước, dò cho tường.
Tướng quân chớ giận— tại hạ không dám nói việc này liên hệ tới tướng quân —chi cầu tướng quân thuận tiện tương trợ, để có chứng cứ mà tâu trình.
” Mạnh Thiên Hùng khẽ nghiêng đầu:
“Hàn đại nhân đa ngôn.
Mạnh mỗ ăn lộc thiên tử, lẽ nào chẳng tận tâm vì xã tắc.
Đã có chỉ phái, Mạnh mỗ xin toàn ý tương trợ.
Cụ thể, tại hạ nên làm gì?
Hàn Quang Nghị đáp gọn:
“Tại hạ khởi hành trước Nội xưởng và Cẩm y;
theo suy đoán, bọn họ chậm lắm cũng vài ngày nữa sẽ tới.
Khi ấy, kính xin tướng quân giám thị hành tung hai ty ấy trong địa phận, hễ có động tĩnh khác lạ thì phi báo tức thời cho tại hạ.
Ngoài ra, nếu được, xin tướng quân cho vài người thạo địa hình làm dẫn lộ, đặt người truyền tin ở những chỗ yết hầu.
Chỉ vậy là đủ.
” Mạnh Thiên Hùng gật đầu, giọng trầm mà chắc:
“Dễ thôi.
Bổn tướng sẽ liệu mà sắp đặt.
Việc nước làm đầu, mong Hàn đại nhân yên lòng.
” Hàn Quang Nghị đặt chén, cáo từ.
Bước chân y vừa ra khỏi trướng lớn, màn da thú khép lại, gió bấc cũng im đi một nhịp.
Mạnh Thiên Hùng đưa mắt theo, ngón tay gõ rất khẽ lên mép án gỗ, như gõ vào nhịp trống trong lòng.
“Tào tham quân,” y gọi nhỏ.
Một viên tham quân trung niên đáp tiếng, lách rèm vào, cúi người chờ lệnh.
Mạnh Thiên Hùng lại dặn:
“Lập tức báo Dương Tổng binh:
lấy cớ ‘tập trận mùa đông’ dời hai doanh kỵ về trại sau Núi Lạc Nhạn, tránh đường đi của quân kinh sư.
Còn Đại công tử—tạm để y luyện xạ ở bãi lau phía bắc, đừng cho gần đại doanh.
” Tham quân lĩnh mệnh lui ra.
Trong trướng chỉ còn ngọn đèn lặng, ánh dầu bám mép bấc.
Mạnh Thiên Hùng nhắm mắt một khắc, nơi lồng ngực có tiếng kim gõ nhè nhẹ.
Y mở mắt, cầm bút, viết mấy hàng ngắn vào một mảnh gỗ mỏng, đóng dấu ấn riêng, rồi ném vào ống trúc.
Gã thân binh áo xanh đón lấy, biến mất như bóng.
Bên bãi trại Tây, lửa nướng còn đỏ.
Mạnh Thiên Bình và Dương Chí đã dời vào trong lều, rượu cạn một tuần, tiếng cười hãy còn vướng ở mái vải.
Dương Chí xem chừng ngà say, nhưng mắt vẫn sáng.
Gã kỵ binh trẻ vừa đàn môi vừa khéo tay xẻ thêm miếng thịt, hương mỡ quện mùi gió lạnh.
Một thân binh ghé tai Dương Chí, thì thầm mấy câu.
Dương Chí gật đầu nhẹ, đặt chén xuống:
“Đại công tử, mai sớm đổi địa điểm luyện xạ.
Tại hạ muốn thử gió ở bãi lau bắc, gió nơi ấy quẩn, xạ pháp mới đòi hỏi vững tay.
“Được,” Thiên Bình cười, “thúc nói sao, ta nghe vậy.
” Dương Chí nhìn chàng một thoáng.
Ánh lửa rót một vệt ấm lên gương mặt trẻ, nơi khóe mắt còn sương non.
Trong lòng lão tướng thoáng hiện một ý nghĩ như lưỡi dao mỏng:
“Nếu có ngày gió lớn nổi lên, mong sao gió tránh được đầu nó.
” Ngoài lều, tiếng gác canh đổi hiệu, ba tiếng mõ khô.
Bầu trời như thấp xuống.
Quan đạo bắc lộ, bụi đường lấm tấm như sương.
Hai đội nhân mã đi song song, áo vải thô mà lưng vai đều rắn rỏi;
đao thép treo yên lóe lạnh dưới trời hanh.
Trước đoàn là đôi song mã, cờ hiệu chia hai sắc:
một bên thêu chữ “Cẩm” một bên thêu “Xưởng”.
Trên lưng ngựa, Chỉ huy sứ Cẩm y vệ Hạ Chấn Nham ngồi thẳng như cán thương;
đối diện là Tổng quản Ngự tiền Tạ Tường Hòa, mặt không lộ hỉ nộ, tay khum dây cương.
Tạ Tường Hòa nghiêng đầu, hạ giọng:
“Lần tuần này do thánh thượng thân ý sai phái.
Không hay bên Chỉ huy sứ đã nắm được manh mối nào chăng?
Hạ Chấn Nham đáp, tiếng vang đặc như chuông đồng bịt:
“Tổng chỉ huy sứ đã trình, dặn tại hạ dốc lòng hiệp trợ Nội xưởng tra án.
Việc lớn nhỏ, Tạ công công chỉ bảo, Cẩm y vệ xin hết sức phối hợp.
Hiện ngoài việc tra rõ mối buôn binh khí cùng muối sắt ở Lương Châu, tạm thời chưa có tin nào đáng cậy.
Chẳng hay Tạ công công có cao kiến, để tại hạ mở rộng tầm mắt?
Tạ Tường Hòa mỉm cười, khóe miệng chỉ nhích bằng sợi chỉ:
“Chỉ giáo thì không dám.
Người của tại hạ, chỉ biết cố hết sức mà làm.
Sắp tới nơi trung châu của Lương — Tham Loan thành — theo phép, trước hết phải bái kiến Đỗ đại nhân, nhờ người mở cửa phương tiện.
Bàn về tra án, Cẩm y vốn được thánh thượng tin cậy;
Nội xưởng đâu dám múa rìu qua mắt thợ — chỉ mong hai ty đồng tâm, sớm phơi rõ chân tướng.
” Hai đoàn người ngựa vẫn giữ thế song hành.
Cờ hiệu thỉnh thoảng chạm nhau nghe sột soạt, như hai lưỡi dao trong cùng một vỏ.
Trước mặt là dải thành Tham Loan xanh xám in chân trời;
sau lưng, gió bấc vẫn đuổi bụi đường thành những vệt mờ mỏng như khói.
Trong mỗi người, ý nghĩ riêng dằn xuống—nhưng dây cương ai nấy đều giữ chắc, đợi đến lúc dừng trước công đường của Đỗ Kỳ, mới biết sợi dây nào sẽ ghì, sợi dây nào sẽ buông Hai đội vào thành, dịch thừa đã chực sẵn ở trạm, báo hiệu mở đường.
Vào đến dịch quán, người ngựa thay áo bụi bằng quan y, sửa đai buộc mũ;
lễ vật bọc gấm treo yên đã ghi danh.
Đội lính sai dẫn đường rẽ qua phố nha môn, dừng trước bậc thềm phủ.
Dưới mái tiền đình, Đỗ Kỳ đứng đợi từ trước.
Y bước lên một bộ, chắp tay “Tại hạ công vụ bề bộn, chưa kịp bày biện nghênh tiếp Xưởng công cùng Chỉ huy sứ, xin thất lễ.
Mời nhị vị nhập phủ.
” Hai người hoàn lễ.
Tạ Tường Hòa nói trước:
“Hôm nay đường đột quấy rầy, khiến Đỗ đại nhân phải tự thân nghênh đón, tại hạ thẹn lắm.
” Hạ Chấn Nham tiếp lời:
“Đỗ đại nhân việc nhiều vẫn ra thềm đón, Hạ mỗ vinh hạnh.
” Vào sảnh, trà vừa châm.
Tạ Tường Hòa cùng Hạ Chấn Nham đặt hai hộp gấm bên án:
“Chút quà mọn từ kinh sư, xin đại nhân chớ khách khí.
Đêm nay sẽ cho người chuyển đến phủ.
” Đỗ Kỳ cười nhã:
“Nhị vị quá khách khí.
Không hay lần này giá lâm, có điều chi chỉ giáo?
Tạ Tường Hòa liếc Hạ Chấn Nham, rồi lên tiếng:
“Triều đình nhận mật báo:
quan ngoại Lương Châu có kẻ buôn binh khí cùng muối sắt cho ngoại tộc.
Bọn tại hạ vâng mệnh đến tra cho tỏ.
Không dám nói liên hệ đến đại nhân, chỉ xin đại nhân phối hợp, để có lời đáp trình thánh thượng.
” Hạ Chấn Nham gật:
“Thánh thượng coi trọng việc này, lệnh hai ty đồng hành.
Kính xin Đỗ đại nhân mở đường phương tiện, cho sớm rõ chân tướng.
” Đỗ Kỳ khẽ đổi sắc rồi bình lại, đứng dậy chắp tay về hướng bắc:
“Bản quan tất hết lòng phối hợp.
” Y thong thả xoay người, nói một tiếng hãy chuẩn bị các sổ thu phát của ba khóa gần nhất Hai thị lại lập tức khiêng vào bốn rương gỗ sơn đen, trên phủ vải xanh, buộc dây tơ vàng.
Đỗ Kỳ chỉ rành mạch:
“Đây là sổ thu phát kho muối ba khóa gần nhất, bản kê lò sắt cùng phiếu trưng mua, bạ lộ dẫn và giấy xét lộ các trạm, kèm sổ thuế môn của thương hội ngoại dịch.
Đều đã đối ấn, niêm phong sẵn.
Xin nhị vị cho đem thẳng sang dịch quán mà tra cứu cho tiện.
Thư phòng của bản quan đã cắt một ban ti lại đi kèm, hễ cần đối chiếu nguyên quyển nơi kho nha, sẽ quay gót ứng hầu tức thời.
” Tạ Tường Hòa khom mình:
“Đỗ đại nhân chu tất như thế, thật khiến người khâm phục.
” Hạ Chấn Nham cũng chắp tay:
“Làm việc nghiêm cẩn, quả là khuôn phép.
” Đỗ Kỳ mỉm cười:
“Đêm nay tại hạ đã đặt sẵn một bàn ở Yến Thúy Lâu, xin bồi rượu nhị vị—không say không về.
” Tạ Tường Hòa đáp:
“Vậy hẹn đêm nay.
Giờ không còn sớm, xin đại nhân cứ tùy tiện xử công, bọn tại hạ về dịch quán sửa soạn.
” Hai bên đứng dậy chào, Đỗ Kỳ tiễn ra thềm.
Bóng cờ “Cẩm” và “Xưởng” vừa khuất, Đỗ Kỳ nghiêng đầu dặn khẽ:
“Đem đủ bốn rương sang dịch quán, khóa ấn nguyên phong, để nhị vị tự tay mở.
Lại sai một xe nhẹ đưa ban ti lại đi kèm.
Báo Yến Thúy Lâu dọn tiệc giờ Tuất, rượu ủ ấm, món thanh, đèn đuốc vừa phải.
“Tuân mệnh.
” Trong sảnh chỉ còn hương trà phảng phất.
Đỗ Kỳ nhấc chén, soi thấy bóng cửa sổ vỡ làm hai vệt trên vành men;
khóe miệng y khẽ nhích, như đã đặt xong quân cho ván tối nay.
Dịch quán treo cờ hai sắc “Cẩm” và “Xưởng”.
Thư lại phủ mang bốn rương gỗ sơn đen đến, ấn tín niêm phong còn nguyên, dây tơ vàng buộc chéo.
Tạ Tường Hòa và Hạ Chấn Nham mỗi người nhận hai rương, lập tức sai phái:
“Rương một, hai theo ta—mở trước kho muối, sau đến lò sắt.
Ghi chép giữ nguyên thứ tự, đối ấn từng trang, niên canh phải khớp.
“Rương ba, bốn theo Chỉ huy sứ—bạ lộ dẫn, giấy xét trạm;
so dấu triện nha môn với sổ môn thu thương hội, chữ nào loang mực cho ghi riêng ra, niêm lại.
” Bọn thuộc hạ “tuân lệnh” trải chiếu cỏ, đặt tịch ký, dọn mực son.
Dao niêm khẽ cứa, mặt sáp tách đôi một tiếng khô;
từng tập sổ được đưa ra, chồng ngay ngắn như gạch lát.
Hai đầu giang bàn có người đọc, người đối, kẻ kiểm dấu ấn, kẻ đếm dây buộc—động nhưng không ồn.
Tạ Tường Hòa và Hạ Chấn Nham rời hiên, bước ra đình nhỏ bên hồ non bộ.
Liễu rủ bóng xuống mặt nước xanh sẫm;
mấy con cá trắng vàng quẫy vệt bạc dưới ánh chiều.
Hạ Chấn Nham chống tay lên lan can đá, nhìn cá đuổi nhau:
“Rời kinh sư ra ngoài một chuyến công vụ… cũng không tệ đâu, Xưởng công.
” Tạ Tường Hòa cười, khóe miệng chỉ nhích bằng sợi chỉ:
“Không khí nơi này dễ chịu.
Thành này, nhìn kỹ cũng chẳng kém bao nhiêu so với kinh thành.
Nhưng nói việc—Chỉ huy sứ định bắt đầu điều tra từ đâu?
Hạ Chấn Nham khẽ nghiêng đầu:
“Xưởng công cứ an lòng.
Trước theo sắp đặt của Đỗ đại nhân đã—người ta bày bàn, ta ngồi đúng chỗ.
Tĩnh dưỡng một hai bữa, nhìn xem gió thổi về ngả nào rồi hãy hỏi to.
Tại hạ, nhất thời chưa muốn quay về kinh đâu.
” Tạ Tường Hòa bật cười khẽ:
“Phải.
Nhưng cũng chẳng thể nghỉ mãi.
Như cá trong hồ kia:
có con thấy mồi là vào ăn;
có con còn lượn vòng, ngó ngược ngó xuôi;
lại có con đứng xa, chỉ ngoi đầu nhìn nước—đợi nước động mới đớp.
” Y vừa nói vừa giữ nguyên nụ cười nhìn Hạ Chấn Nham.
Hạ Chấn Nham hiểu ý, đốt một que nhang đuổi muỗi, chậm rãi đáp:
“Vậy thì đợi xem—con nào cắn trước.
” Bên trong nhà khách, tiếng lật sổ, tiếng bút son chấm ấn đều đặn như nhịp mõ.
Ngoài đình, gió đưa mùi trà ấm.
Hai người ngồi yên, mắt theo một vòng gợn tròn lan rộng trên mặt nước, như đợi một dấu hiệu rất nhỏ—đủ để biết mồi đã chạm vào đâu.
Hủy
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.
Không có bình luận.
Đang tải...
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Ghi nhớ đăng nhập