Chương 21 :
Ván Cờ Hắc Nham Cuối tháng.
Tuyết đầu mùa rơi lưa thưa như muối rắc.
Trong mật thất phủ thành, cửa chớp khép ba tầng, chỉ còn một ngọn đăng dầu treo thấp.
Bàn gỗ đặt giữa phòng, trải một tấm họa đồ mực đen:
Tham Loan – Hắc Nham Khẩu – bến Thành Tùng – dãy Lạc Nhạn.
Trên mép giấy, mấy dấu chấm son nhỏ như vẩy cá.
Đỗ Kỳ đứng sau án, hai tay chắp sau lưng.
Mạnh Thiên Tường quỳ nửa gối, lưng thẳng, hơi thở không dám mạnh.
"Đến kỳ rồi,"
Đỗ Kỳ nói nhỏ, giọng không cao hơn tiếng tuyết rơi ngoài hiên.
"Ngươi ghi kỹ, sai đi cho đúng người, đúng giờ.
"
Y dùng đầu bút chỉ vào họa đồ:
"Nhất:
Hoàng viên ngoại vẫn theo lời mà thúc hàng—trà, cốc, vải.
Cho y dâng nốt phần đặt cọc thứ hai, rồi lùi về bóng sau.
Đêm mồng Một, khí trời nổi bấc, đường Trúc Sơn 'tình cờ' hư—ngươi bảo ty dịch dựng bảng cấm qua, ép đoàn Lư viên ngoại rẽ Hắc Nham Khẩu.
"Nhị:
dưới đáy năm rương trà, thay cho ta túi muối bánh cũ, rắc bột sắt già;
trên cùng đặt bạc trắng đã đóng dấu thương hội—loại thật.
Phía sau, sắp một đoàn 'thương nhân giả' đi rời nửa canh, áo giáp mỏng, đao rèn chợ, nói giọng quan ngoại.
Đến cửa hẻm, chúng gây xô xát để làm cớ.
"Tam:
báo Dương Tổng binh theo 'công văn hiệp trợ' của bản quan mà đem đội kỵ tới Hắc Nham Khẩu—đến chậm nửa khắc.
Trong đội, cài bảy tám người của ta.
Lúc chạm, dựng cảnh hồi thương chống trả, để có tiếng đao tiếng ngựa.
Ta sẽ dẫn ty lại tới đúng lúc, bắt, niêm, điểm danh.
Mạnh Thiên Tường hạ giọng:
"Thuộc hạ tuân lệnh.
Đỗ Kỳ lia bút sang mép tây họa đổ, một chấm son đặt sát chữ
"Sóc Phương”:
"Tứ:
nhắn Ô Kha—đúng hẹn mà làm.
Cho người Hồ 'thoát' khỏi Hắc Nham Khẩu ba bốn tên, lẩn theo rìa rừng, về kêu người.
Đêm mồng Ba, bọn họ khoác cờ Huyết Hùng bộ, đột nhập nha môn Sóc Phương, g·iết Cao huyện lệnh, đốt hòm chứng, nhưng dặn có chừng mực—chỉ người trong nha, không quá tay ngoài phố.
Làm nhanh, rút gọn.
"Ngũ:
lập sẵn người đưa tin trong huyện.
Khi Sóc Phương nguy' chạy thẳng lên doanh của Mạnh tướng quân cầu viện.
Mạnh tướng quân suất ky xua Huyết Hùng ra khỏi thành giới, rồi cho người về báo bản quan.
Lúc ấy, Cẩm — Xưởng sẽ theo phép' dẫn giải mấy kẻ về kinh, đủ giao phó.
Nói đến đây, y ngừng, mắt rơi xuống một chấm son đặt cạnh tên
"Lư"
viết nhỏ bên mép giấy.
Đèn hắt bóng mi trên má, thành một vệt mảnh.
"Nhớ:
mọi dấu vết đều để người khác trông thấy.
Bạ lộ dẫn đổi tay phải có sổ của nha môn, dây buộc rương đổi màu phải có người bến chứng.
Họ đến hỏi, cứ mở.
Họ lục, cứ để.
Họ thấy 'không nhiều' càng tốt—nước đục đâu phải chỉ vì bùn.
Mạnh Thiên Tường khẽ đáp, rồi lại do dự một thoáng:
"Còn.
Lư viên ngoại?
Đỗ Kỳ không đổi sắc:
"Dê tế cờ, đã định từ đầu.
Sự đã khởi, không thể co tay.
Ngươi chỉ cần nhớ—trước mặt, ta không sai ai đụng đến mạng người nhà Lư.
Việc đến đâu, để luật đến đó.
Tuyết ngoài hiên dày thêm một nấc.
Đỗ Kỳ cuộn họa đồ, nhét vào ống trúc, đóng dấu sáp đỏ ấn riêng.
"Đi đi.
Mạnh Thiên Tường lĩnh mệnh, lui ba bước mới quay lưng, bóng áo đen lẫn vào bóng đèn, khuất sau rèm.
Sáng kế, trong phủ thành, Mạnh Thiên Tường trở về, thay áo tuyết, vào thẳng mật thất lần nữa.
"Bẩm đại nhân,"
y quỳ.
"Hoàng viên ngoại đã nạp đủ phần đặt cọc thứ hai, nói đầu tháng lên đường.
Bến bắc đã đổi dây buộc rương theo sắc chỉ;
bảng 'đường hỏng' ở Trúc Sơn mai dựng.
Người của ta đội mũ dạ đã vào đoàn Dương Tổng binh, danh nghĩa 'lính áp giải'.
Ô Kha nhận hiệu, hẹn mồng Ba.
Tin trong huyện cũng đã sắp, người chạy trạm thuộc đường.
Đỗ Kỳ chỉ nói một câu:
"Được.
Rồi đưa mắt ra cửa.
Ngoài kia, tiếng chổi quét sân cọ vào mặt gạch ẩm;
tiếng mèo chạy qua xà, làm bụi tuyết rơi lộp bộp trên mái.
Đỗ Kỳ chợt cười mỏng:
"Gió bấc lên, ai cũng quấn thêm áo.
Quấn đủ rồi—đến lúc bớt áo.
Y với tay lấy bút, viết vắn vào phiến gỗ mỏng:
"Hắc Nham—giờ Mẹo nửa đêm mồng Một.
Dấu sáp đỏ chấm xuống, bóng đèn run lấp lóa.
Một ván cờ, quân đã đặt xong.
Chỉ còn đợi tuyết dày thêm một gang tay, để dấu chân in rõ trên đường hẹp.
Khi ấy, tiếng đao tiếng ngựa trong khe đá sẽ vang như sấm, mà ai nấy đều có chỗ đứng sẵn—người bắt, người chạy, người.
chứng kiến.
Đêm ấy quá canh, sương bạc giăng mái.
Cổ Xuyên hồi quán, đẩy then mộc khẽ kẹt;
dưới ánh đăng dầu, Chu Tử Tiêu ngồi bên án đá, tay mài đoản đao, tia nước rỏ tách tách.
"Chu huynh đã về?
Cổ Xuyên chắp tay.
Chu Tử Tiêu ngẩng, khóe mục thoáng tiếu:
"Đệ có điều chi?
"Lư viên ngoại mời đệ đồng hành một chuyến thượng lộ Sóc Phương—trà, cốc, vải đủ cả—đầu nguyệt phát trình.
Lộ dẫn người xe đã sắp.
Đệ muốn đi mở mắt, độ mươi ngày lại hồi.
"Thuận phong bảy, nghịch bấc mười, phải chăng?
"Vâng.
Cửa lại khép mở.
Cảnh Thắng khoác áo choàng sương điểm, bước qua ngạch:
"Nếu tiện, ta cũng muốn theo đệ xem bến bãi bắc lộ.
Sau lưng, Phùng Ninh dừng ở thềm, hạ giọng nói nhỏ:
"Vương gia,Phu nhân sắp hồi phủ.
Trời chớm đông, đường đóng sớm—e vương gia đi lúc này, về chẳng kịp nghênh giá.
Cảnh Thắng khựng một nhịp, chau mày rồi gượng cười:
"Vậy.
tạm lỗi hẹn với đệ.
Chu Tử Tiêu đặt đao, lấy khăn khô lau lưỡi, thong thả:
"Huynh sống quan ngoại hơn hai mươi năm, gió cát điều chi cũng quen.
Lần này huynh không đi.
Đệ cứ khởi trình, mươi hôm trở lại—huynh ở đây chờ.
Cảnh Thắng tặc lưỡi:
"Thế thì ta ở lại luyện khẩu âm cùng Chu huynh, đợi đệ về kể chuyện đường muối đường trà.
Cổ Xuyên quay sang Chu Tử Tiêu, chắp tay:
"Chu huynh lưu lại, lòng đệ yên.
Nhà Lư nói năng có khuôn;
đệ theo đường buôn, tiện xem lộ dẫn—hồi kinh tất sẽ bẩm tường.
Chu Tử Tiêu gật, đùa khẽ:
"Vào Lư phủ phải ngay lưng như vào học cung;
không khoái bằng rảo chợ với Cảnh công tử.
Đệ đi cho gọn, chớ rẽ ngang.
Nhớ—qua trạm thì trình lộ dẫn, gặp gió trái thì ít lời.
"Đệ ghi tâm.
Đăng dầu bập bùng một chốc rồi yên.
Ngoài song, tuyết thưa dần.
Hai huynh đệ bàn qua giờ khởi trình, chỗ tập kết, đoạn mỗi người một sàng mộc.
Trước khi chợp mắt, Cổ Xuyên còn nghe Chu Tử Tiêu đếm hơi—ba vào, ba giữ, ba ra—theo lời Thanh Vân từng truyền;
lòng bỗng nhẹ đi một bậc.
Trời chưa sáng hẳn, sương như khói mỏng quấn chân.
Chu Tử Tiêu tiễn đến đầu ngõ, dặn đệ từng điều vụn mà thành khuôn lớn:
"Lên xe thì nhìn dây buộc rương, đi qua trạm thì đếm canh đổi gác;
thấy vết bánh xe đổi rãnh là có kẻ ghé ngang, nghe ngựa thở gấp biết dốc dài;
mùi sắt gỉ khác mùi đao chợ, tiếng bạc va trong hòm khác tiếng đá—đệ cứ nhớ, mắt nhìn, tai nghe, lòng chớ vội.
Nói xong lại nhét thêm sợi dây gai, buộc chặt vỏ đao cho Cổ Xuyên, mới lùi một bước chắp tay.
Bóng áo đen của cổ Xuyên nhập vào sương, qua một khúc tường rêu là khuất hẳn.
Chu Tử Tiêu đứng nguyên nơi ấy một chốc, trong ngực bỗng rỗng như vừa bỏ quên vật gì.
Y cười tự trào:
"Chỉ là gió bấc thấm xương nên đa cảm.
Rồi kéo cao cổ áo, trở vào quán—mài lại lưỡi đao, đếm hơi như lời Thanh Vân dạy, để nỗi hụt hẫng lặng dần dưới ánh đăng dầu vàng nhạt.
Cổ Xuyên ra khỏi ngõ hẹp, bước chân dần vững theo nhịp phố sớm.
Hàn phong quét qua mái ngói, tiếng cờ hiệu ở bến xa đập phành phạch.
Lời Chu huynh còn ấm bên tai— mắt phải tinh, tai phải thính, lòng phải tĩnh.
Ba ngày học
"Tâm – Cửa — Tam thủ"
của Thanh Vân, lại mấy đêm đọc sách trong thư phòng Lư phủ, đã đặt cho y một cái trụ giữa gió:
việc đến như nước, việc đi như khói, giữ được mối nào thì đường ấy sáng.
Đi ngang một giếng gạch bán nguyệt, Cổ Xuyên ngẩng nhìn trời đông xám bạc, khóe môi khẽ cười.
Cảm giác lạ lùng vừa thoáng qua—như có sợi tơ níu giữa hai đời—rồi tan.
Y nghĩ tới đoạn đường trước mặt, tới lộ dẫn đã sắp, rồi chậm rãi nói trong lòng:
"Kiếp trước ta u mê, để ngày trôi như nước lặng.
Kiếp này đã được thở lại gió đời, ắt phải sống cho đáng—một ngày cũng là một ngày có chỗ đặt.
Gió bấc tạt mặt, lạnh mà tỉnh.
Y kéo chặt đai đao, rảo bước về phía Hạc Vân để nhập đoàn.
Phía sau, ở đầu ngõ, chiếc đèn lồng quán trọ lắc nhẹ một nhịp như đáp lời biệt;
phía trước, con đường bắc lộ mở ra, mảnh như lưỡi đao đặt ngang trời.
Đúng thời khắc ấy, tại thành Tham Loan.
Trước án ở phủ nha là tấm địa đồ Lương Châu trải rộng, đèn dầu còn vết khói.
Đỗ Kỳ đứng thẳng, tay trái chắp sau lưng, tay phải gõ nhẹ lên chữ
"Tham Loan".
Ngoài cửa, thư lại vào bẩm:
chỉ huy sứ đã tới, xưởng công cũng vừa đến.
Đỗ Kỳ vừa ngoảnh mặt thì hai người đã bước qua ngạch, áo choàng còn đọng sương sớm.
Hạ Chấn Nham ôm quyền, cười mỏng:
"Rạng canh đã gọi, không rõ Đỗ đại nhân có việc chi sai bảo hạ mỗ cùng Tạ công?
Đỗ Kỳ đáp gọn:
"Bản châu vừa nhận một nguồn tin:
Hắc Nham Khẩu có bọn buôn v·ũ k·hí cùng muối sắt tụ họp.
Việc hệ trọng, báo cho nhị vị rõ.
Tạ Tường Hòa nghiêng mình, mục quang bình lặng:
"Ở đâu, và vào canh nào, xin đại nhân chỉ giáo.
Đỗ Kỳ dùng cán bút điểm lên địa đồ, ngay chỗ khe đen sát mép bắc:
"Hắc Nham Khẩu — tại đây.
Ước hẹn trong một hai ngày tới .
Phiền nhị vị hồi trạm sắp người, bản châu sẽ hiệp đồng tầm nã, trả sự trong sạch cho Lương Châu.
Hai người cùng chắp tay:
"Phiền Đỗ đại nhân.
Nói đoạn, cả ba rời nơi án, hướng về dịch trạm.
Cẩm y vệ và Nội xưởng lập tức phái kỵ đi các cổng thành điều nhân;
chừng một chung trà, hai đội đã tập hợp trước phủ nha.
Đỗ Kỳ khoác áo, lên yên, nghiêng mình dặn nha lại bên cạnh:
"Ngươi lập tức chạy đến doanh Mạnh tướng quân, thỉnh cử nhân mã phối hợp.
Lệnh vừa phát, đội hình rầm rập rời cổng bắc, nhắm hướng Hắc Nham, vó sắt gõ đều trên mặt đường đóng sương.
Ngay khi đại đội nhân mã của Đỗ Kỳ ra khỏi thành, chiều hôm ấy Hàn Quang Nghị cũng nhận được tin.
Y lập tức vào doanh bái kiến Mạnh Thiên Hùng, nói khẽ:
"Xin tướng quân cấp cho ta một đội trinh sát thạo đường, để tiện theo dõi động tĩnh Hắc Nham Khẩu.
Mạnh Thiên Hùng trầm ngâm giây lát rồi phất tay:
"Đô đầu Diêu!
Điểm đủ một trăm khinh kỵ, người ngựa tinh tuyển, theo Hàn huynh xuất phát.
Tiếng tù và điểm danh nổi lên, hàng ngũ khinh kỵ sắp chỉnh.
Hàn Quang Nghị đổi sang giáp trận của quân doanh, giắt đao ngắn, giấu thân phận quan Ngự Lâm, hòa lẫn như một binh lính thường.
Chưa kịp xuất phát, một lính doanh đã vội chạy vào quỳ báo:
"Mạnh tướng quân!
Đỗ đại nhân sai bồ câu đưa tin, thỉnh phối hợp vây bắt t·ội p·hạm tại Hắc Nham Khẩu.
Mạnh Thiên Hùng gật đầu:
Truyền lệnh điểm binh toàn doanh.
Cờ tiết dựng cao trong gió bấc.
Mạnh Thiên Hùng cưỡi lên đầu hàng, Hàn Quang Nghị lẫn trong hàng khinh kỵ của Đô đầu Diêu, ngồi thấp vai, chẳng khác gì một quân sĩ.
Trống lệnh ba hồi, vó ngựa đồng loạt đập xuống mặt đất phủ sương, bụi tuyết bốc mờ, cả đoàn quân rầm rập kéo ra cổng bắc, nhắm thẳng Hắc Nham Khẩu mà đi.
Đêm đầu hạ trại, tuyết mỏng phủ quanh bãi đất trống, lửa củi cháy bập bùng.
Phu dịch ăn vội cơm nắm, thương nhân ngồi thành từng nhóm, tiếng nói rì rầm lẫn tiếng gió bấc.
Cổ Xuyên ngồi dưới gốc cây, bên cạnh bao ngũ cốc đã gánh cả ngày, tay cầm bầu nước, nhấp từng ngụm nhỏ.
Mắt y vẫn để ý rương hàng buộc dây, ánh bạc loé sáng trong lửa.
Lư viên ngoại chống tay sau lưng, đi một vòng quanh trại rồi ghé lại, giọng trầm nhưng ôn hòa:
"Tiểu huynh đệ, hôm nay đường đi dài, sinh hoạt như thế này đã quen chưa?
Cổ Xuyên ngẩng lên, hơi khom mình đáp:
"Quen thì chưa, nhưng gió bấc thế này, có miếng cơm lành lửa ấm cũng đủ.
Lư viên ngoại khẽ cười, ngồi xuống tảng đá bên cạnh, chìa tay gần lửa sưởi:
"Đi buôn biên thùy, cực nhọc là thường.
May cho ta, vốn có bà con là tổng binh trấn thủ nơi này, nên mấy chuyến hàng qua lại ít khi bị quan phủ khó dễ.
Lính trạm cũng quen mặt, chỉ cần trình lộ dẫn, chẳng ai sinh sự.
Cổ Xuyên hơi nghiêng đầu, giọng nhỏ nhưng chắc:
"Vậy thì đoàn an toàn hơn nhiều.
Lư viên ngoại gật gù, nhìn ánh lửa hắt lên gương mặt thanh niên kia:
"Đệ tuổi còn nhỏ mà chịu khổ, đáng quý.
Nếu quen dần, sau này theo đường buôn cũng có chỗ đứng.
Ở đời, không chỉ cần sức gánh, mà còn cần mắt sáng, tai thính.
Thấy dây buộc đổi màu, nghe tiếng bạc khác tiếng đá, ắt sẽ hiểu hàng nào nặng nhẹ.
Cổ Xuyên lặng thinh một thoáng, rồi đáp gọn:
"Tiểu đệ xin ghi nhó.
Hai người ngồi yên bên ánh lửa, tiếng củi nổ lép bép, sương trắng phủ xuống, che mờ cả tiếng ngựa hí xa xa.
Trong cái lạnh đêm biên tái, một cuộc tâm sự ngắn ngủi khiến bước đường khổ hạnh bớt phần nặng nề.
Hủy
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.
Không có bình luận.
Đang tải...
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Ghi nhớ đăng nhập