Chương 37 :
Thành Côn là ta.
!
Xuân lai, khí trời ấm dần.
Khách thương Quan ngoại lục tục nhập huyện Sóc Phương giao dịch;
kẻ Quan nội cũng lần lượt xuất thành.
Chợ búa vì thế ngày một náo nhiệt.
Tại góc đường, sạp “Bắc Phong” vốn chuyên xiên dê nướng đã sớm có người đứng chực.
Món ấy hợp khẩu đám Hồ tộc nên tiếng lành truyền xa.
Song giờ tốt đã điểm mà cửa hàng còn chưa mở, chúng nhân xôn xao.
Một Hồ nhân khoanh tay ngửa mặt than:
“Ông chủ Hoa đến giờ vẫn chưa khai hỏa, họ đâu cả rồi?
”
Một thương nhân Đại Mạc chen lòi:
“Đúng vậy!
Ta thèm xiên dê “Bắc Phong!
đến mất ngủ.
” Lại có kẻ nói:
“Ta bảo gia đinh về bắt chước nấu, ăn tạm bợ;
tửu lâu trong thành cũng học theo, song rốt cuộc chẳng nơi nào ngon bằng “Bắc Phong'.
” Đang lúc bàn tán, bèn thấy Hoa Hùng cùng Cổ Xuyên ung dung đi tới, sau lưng có xe nhỏ chở mấy thùng gỗ đậy kín.
Đám đông lấy làm hiếu kỳ.
Cổ Xuyên chỉ mỉm cười gật đầu.
Hoa Hùng bước lên trước, chắp tay cao giọng:
“Chư vị hương thân phụ lão, xuân sự đã tới.
Hôm nay bổn điểm khai món mới, danh goi “Trứng Bách Thảo”.
Biết chư vị nôn nả muốn nếm, ngày đầu xin tặng mỗi người một quả để thử.
” Nói đoạn, ÿ vỗ tay.
Ba huynh đệ khiêng thùng đặt lên án, mở nắp.
Mỗi người một việc, đập vỏ rửa sạch.
Quả trứng hiện ra lòng trắng trong như hổ phách dưới nắng, ai nấy trầm trổ, chưa biết khẩu vị ra sao.
Hoa Hùng bèn làm mẫu:
bày một đĩa nhỏ, điểm tương, chan dấm, thêm chút sa tế ớt;
lại bổ trứng làm bốn.
Lòng đỏ đen sánh, sềnh sệt như mật đông.
Y đảo nhẹ cho mọi người ngắm, rồi đưa đũa về phía một Hồ thương nhân.
Vị này thoạt trông sắc đen thì do dự.
Hoa Hùng cười khích lệ:
“Vị đại ca đây từng xông pha gió tuyết, lẽ nào lại sợ một quả trứng nhỏ nhoi?
Hồ thương nhân nghe nói, bèn gắp một miếng đưa vào miệng, nhai chậm rãi, nuốt xuống.
Đôi mắt ti hí bỗng mở lớn, buột miệng thốt:
“Ngon quá!
” Nghe tiếng khen “mỹ vị” người vây quanh đặt mua rộn ràng:
“Cho tại hạ mười quả mang về!
“Nhà ta một khay!
“Bổn điếm lấy hai chục, mai còn chăng?
Hoa Hùng vừa ghi sổ vừa chỉ cách ăn, giọng ôn hòa:
“Dùng với cháo trắng càng hợp:
bách thảo xắt khoanh, chấm chút tương giấm, rắc hành non, điểm vài sợi gừng hồng —ấm dạ mà thanh.
” Có người hỏi thẳng:
“Giá bao nhiêu một quả?
Hoa Hùng chắp tay:
“Bách thảo này đều làm từ trứng vịt, mười văn một quả.
” Vài kẻ xì xào:
“Nhinh quá chăng?
Hoa Hùng vẫn cười:
“Xin chư vị lượng thứ.
Một mẻ phải ủ trọn một tháng, ngày ngày trở tay, chêm rơm giữ ấm, ky gió ky ẩm;
sai một ly là hỏng cả hũ.
Bởi thế giá không thể thấp hơn.
” Cổ Xuyên lúc này bước ra, ôm quyền mỉm cười:
“Chư vị có biết điển tích của bách thảo trứng chăng?
Người quanh sạp nhìn nhau ngơ ngác, đồng loạt lắc đầu.
Cổ Xuyên kéo ghế ngồi, thong thả bóc một quả, vừa làm vừa kể:
Xưa có một nhà bần hàn, chỉ có mẫu thân già cùng một nhi tử.
Gà hễ đẻ trứng, mẫu thân đều đem bán đổi gạo, chẳng nỡ để con ăn.
Tiểu tử kia ngoan lời, tuy thèm mà vẫn nhịn.
Một hôm bụng dạ thòm thèm quá, bèn lén lấy một quả.
Sợ mẫu thân hay biết, liền đào đất chôn, lót rơm ủ kín tồi lấp lại.
Ban ngày đến học đường, chiểu về lại có mẫu thân coi sóc, chẳng tiện đào lên, lâu dần bèn quên.
Đến đông năm ấy rét dữ, gia súc c hết nhiều, mẫu thân lại lâm bệnh.
Nhi tử muốn tẩm bổ, chợt nhớ quả trứng chôn hôm nọ, bèn moi lên, đem luộc, nấu một bát cháo dâng mẫu.
Nào ngờ bóc ra, lòng trắng hóa sắc hổ phách, lòng đỏ lại sẫẵm như mực.
Đứa nhỏ giật mình, ngõ hỏng, òa khóc.
Mẫu thân nghe tiếng, xuống bếp hỏi có sự, nhi tử đành kể hết.
Mẫu không nỡ quở trách, nếm thử cùng cháo, thấy mùi vị thanh bùi lạ lùng.
Cảm tấm lòng con hiếu, bèn đặt tên “bách thảo:
“bách là trăm tuổi trường thọ, “thảo là tấc hiếu nơi lòng.
” Cổ Xuyên ngẩng lên, giọng ôn hòa:
“Bởi vậy, món này vốn để làm lễ vật hiếu kính.
Chư vị thử nghĩ— một quả trứng nhỏ mà gửi được chữ “thọ lẫn lòng “hiếu;
mang về dâng song thân, há chẳng phải là chí nghĩa sao?
Nói đoạn, Cổ Xuyên nâng quả bách thảo vừa bóc, cung kính đặt lên đĩa, hai tay dâng về phí vị thương nhân Đại Mạc đối diện:
“Thỉnh tôn giá nếm trước một miếng, lấy hên đầu ngày.
Nếu hợp khẩu vị, xin mang đôi ba quả hồi phủ;
đêm nay hâm cháo gừng, cắt trứng dâng phụ mẫu —ắtlà đẹp chuyện trong nhà.
” Chợ vừa rộ tiếng khen, người người liền nhao nhao săn mua.
Thoáng chốc, trứng trong sạp “Bắc Phong sạch như chùi.
Hết bách thảo, Hoa Hùng bèn xoay tay chuyển lò, nướng tiếp một trăm xiên dê như lệ cũ.
Kẻ trước người sau đặt mua mang đi đường xa;
nghe cổ Xuyên bảo “ướp đúng phép, gói giấy dầu, để mát thì giữ được năm đến bảy ngày” ai nấy càng vững dạ, tiền trao tay rôm rả.
Bọn đàn em nhìn Cổ Xuyên mà phục sát đất:
“Đại ca tính đâu trúng đó!
” Hoa Hùng cười đết không khép được miệng, lửa trong lò còn đỏ rực.
Cuối buổi, cả bọn quây án tre tính sổ.
Cổ Xuyên gõ thẻ, thong thả đọc:
_ Xiên dê:
một trăm xiên, mỗi xiên lời bảy văn —— cộng bảy xâu.
~ Trứng bách thảo:
hôm nay bán ra tắm mươi quả;
trứng vịt mua thường bốn văn, thêm chi phí một văn, vị chi năm văn;
bán mười văn, lời sáu văn một quả.
Tám mươi quả, lãi bốn trăm tám mươi văn — — tức bốn xâu tám mươi văn.
“Vịchi” ÿ kết lại, nôm nay thu được mười một xâu tám mươi văn.
Mười xâu là một lượng bạc.
” Nghe tới đó, cả bọn đồng loạt toe toét.
Hoa Hùng vỗ đùi đánh “đốp”:
“Mỗi ngày mà được một lượng thế này, chẳng mấy chốc.
” Cổ Xuyên gật đầu, chỉ chiếc thẻ ghi giá nhà của nha môn:
“Nhà trong huyện Sóc Phương, vị trí thường chừng hai mươi đến ba mươi lượng;
chỗ hơi đẹp thì năm mươi đến bảy mươi;
còn mặt chợ như đoạn này, chín mươi đến trăm lượng.
Cứ đà một ngày một lượng, một tháng đã đủ mua một căn tươm tất trong huyện.
” Bọn Khương nhân nghe vậy, mắt sáng như sao, khí huyết rần rật như rượu mới hâm.
Hoa Hùng ôm quyền:
“Đại ca dẫn đường, tiểu đệ liều sức.
Tháng này, quyết kiếm căn nhà đầu tiên của “Bắc Phong” Cổ Xuyên cũng cười vang:
“Giờ ta ra chợ thu gom nguyên vật liệu.
Hoa Hùng, biết mua những gì rồi chứ?
Hoa Hùng gật đầu như giã tỏi.
Cổ Xuyên trao cả mười một xâu cho y đi chợ đặt thịt, dầu, mè, gia vị,và rất nhiều trứng vịt;
riêng tám mươi văn giữ lại để mua trái cây.
Vừa vào bổn huyện, y thấy Tần Cối đang ngồi bên hiên nha môn, tay nâng quyển “Luận Ngữ” môi mấp máy đọc thầm.
“Hai ngày nữa khảo thí huyện đường tới nơi rồi.
Tần hiển đệ ôn thế nào?
Tần Cối mỉm cười:
“Cũng ổn.
Chỉ sợ trường quy gắt, bụng lại đói.
“Nhớ giữ sức, kẻo bệnh thì hỏng cả”
“Biết rồi, Cổ huynh.
” Cổ Xuyên đưa mấy quả táo:
“Ăn tạm chống dạ.
” Rồi xách bọc trái cây rẽ sang sân sau tìm Băng Linh.
Bấy giờ Băng Linh đã bỏ nạng, bước chân còn chậm nhưng vững.
Nàng đứng giữa vườn, tay phải lật cổ tay, “Phập” một tiếng —viên bi sắt xuyên tờ hồng tâm dán trên tường, đúng ngay chấm đỏ.
Động tác gọn và sạch.
Cổ Xuyên vỗ tay:
“Hảo thủ pháp!
” Băng Linh chỉ hơi cau mày:
“Cổ bộ khoái hôm nay tâm trạng tốt vậy?
“Thấy Băng bộ khoái là tâm trạng tốt liền,” y cười khẽ.
“Vết thương thế nào?
“Ổn rồi.
“Cưỡi ngựa được chăng?
“Cũng.
được.
“Thế thì đi.
Đang đầu xuân, giam mình trong phòng buồn chết.
” Bị thúc giục mãi, cuối cùng Băng Linh cũng thuận.
Hai người dắt ngựa ra cổng sau, theo lối mòn ven bờ lau mà đi.
Trời xuân ấm, mây vẩy cá trôi thảnh thoi.
Cổ Xuyên dẫn nàng tới con suối năm xưa y với A Ngũ từng bắt cá:
nước trong như gương, đá cuội xanh, bờ bên là rặng trúc non lẩy măng, gió thổi xào xạc như tơ lụa chà nhau.
“Chỗ này mát mắt.
” Băng Linh đứng bên mép nước, tay vô thức đặt lên mạn sườn đã bớt đau.
“Đợi ta trổ tài” Cổ Xuyên xắn quần, bước xuống suối.
Y đi ngược dòng, hai tay chụm như lưỡi liềm, chợt khựng— “tạtf—một mớ nước bắn lên, một con cá bạc quẫy trong lòng tay.
Lầy thứ hai, lại thêm con nữa.
Một lát sau, bếp lửa đã bén.
Cổ Xuyên cắm xiên tre, rắc muối, tiêu giã, lá tía tô xé nhỏ—mùi cá nướng quyện khói xuân thơm dìu dịu.
Y bày trái cây, bẻ gừng non cho vào ấm nước sôi, rót ra chén đất.
“Băng bộ khoái.
nhà ở đâu?
Cổ Xuyên ngồi đối diện, hỏi chừng mực.
Băng Linh ngẫm một thoáng rồi chỉ kể sơ vài nét gia đạo, tránh đoạn lắt léo.
Đến chuyện vì sao không ưa nam nhân, nàng khẽ liếc y, chỉ lắc đầu:
“Không muốn nói.
” Cổ Xuyên “ừ” nhẹ, không dồn.
Y trở cá, đưa xiên:
“Nóng tay.
” Nàng đón lấy, thổi khói, cắn một miếng nhỏ.
Thịt cá mềm, da nổ lốp bốp, vị muối tiêu vừa vặn.
Mĩ liễu khẽ giãn.
Cổ Xuyên giả vờ không để ý, chỉ gỡ xương, đặt phần nhiều thịt về phía nàng.
Mặt trời nghiêng xuống rặng trúc, ánh vàng rắc lên mặt suối như vụn tơ.
Ăn xong, họ ngồi im nghe nước chảy một chốc.
Rồi Cổ Xuyên phủ tro lên bếp, d-ập Lửa, buộc gọn túi rỗng.
Trên đường về, gió xuân thổi qua vành mũ, hương trúc còn đọng ở vạt áo.
Tới cổng nha môn Cổ Xuyên ghìm cương:
“Hôm khác rảnh, ta lại.
bắt cá” Băng Linh xuống ngựa, tay chạm nhẹ bờ yên:
“Tùy.
” Nói xong, nàng quay người đi trước.
Bóng áo xanh lướt qua thềm, chỉ còn mùi khói cá và gừng nóng vương lại nơi hiên chiều.
Cổ Xuyên đứng một nhịp, bật cười không tiếng, rồi dắt ngựa theo sau, lòng nhẹ như nước suối vừa qua.
Thời khắc tiếp giáp giữa Đại Yến và Đại Mạc, không khí lạnh lẽo bao trùm vùng biên giới, tuyết đã ngừng rơi, chỉ còn lất phất nhẹ như sương mù mờ ảo, giữa đỉnh núi hoang vu, đao quang kiếm ảnh múa lượn như rừng, tiếng kim loại v-a chạm “keng keng” vang vọng giữa trời đất tĩnh lặng.
Thành Côn,tuổi ngoài ba mươi với gương mặt hiển lành vẻ ngoài khiến người khác dễ hiểu lầm là người thiện cảm, cầm thanh đao lách né liên hồi.
Hai đại nội mật thám còn lại —một tên cao lớn, mặt vuông chữ điền cầm trường kiếm, tên ki:
gầy gò, mắt hẹp như rắn với song đao— theo sát y, phối hợp tấn công dồn dập, trong khi khoảng hai mươi lính của Đại nội mật thám Đại Yến đứng vây quanh, tay cầm giáo mâu, mã sắc lạnh, đôi khi xông vào hỗ trợ nhưng bị Thành Côn chém chết vài tên, máu.
phun tung:
tóe, khiến cuộc chiến càng khốc liệt.
Đây là tổ chức thần bí của Đại Yến, không ai biết đến ngoài hoàng đế Mộ Dung Vĩ, khác với đại nội mật thám của Đại Mạc hay các nước khác, họ không có phủ nha hay cơ cấu rõ ràng, sống dưới lòng đất, chuyên á-m s-át hơn là cung cấp thông tin, hoạt động độc lập, được phép trảm trước tấu sau, nhưng không được động đến quan lại cấp cao hay hoàng thân quốc thích — Thành Côn, từng là một phần của tổ chức, nay trở thành mục tiêu t-ruy sát vì tội ác tày trời.
Tên cao lớn gầm lên:
“Thành Côn, ngươi không thoát được đâu!
Ngươi làm nhiều chuyện tán tận lương tâm như thế, hôm nay dù mọc cánh cũng không bay được!
” Lưỡi kiếm vung mạnh như sét đánh, chém từ trên xuống, mang theo kình phong rít lên sắc nhọn.
“Thành Côn nghiêng người né, cười khẽ:
“Các ngươi nói nghe thật khéo, có ai tự nguyện dâng mạng mình cho người khác không?
Ta chỉ griết có vài người, cưỡng bức có vài người cũng không phải hoàng hậu hay phi tần của hoàng đế, các ngươi liền trở mặt t-ruy s-át!
Nên nhớ đại nội mật thám có quyền trảm trước tấu sau!
” Y xoay người, thanh đao vung ngang chặn song đao của tên gầy, tiếng “keng” chói tai, tia lử:
bắn ra như sao rơi, đẩy y lùi lại.
Tên gầy, mắt hẹp như rắn, song đao múa lượn như rồng cuốn, chém xéo vào chân Thành Côn:
“Hừ, tên súc sinh như ngươi, nhà Thạch viên ngoại cả nhà ngươi griết hết, chẳng tội gì, còn hay phát gạo cứu tế người dân khổi Tại sao ngươi lại nhẫn tâm giết cả nhà họ, làm nhục nữ nhi của họ, khi phát hiện thi người nữ nhi ấy.
ngươi.
ngươi là tên cầm thú, bọn ta phải nrôn m-ửa!
” Lưỡi đao quét ngang, gió cuốn theo cỏ khô bay mù mịt.
Thành Côn lăn người tránh, thanh đao đâm ngược vào bụng tên gầy, nhưng tên cao lớn từ Phía sau chém xuống, buộc y phải rút tay về chặn “keng” một tiếng, tay run lên vì lực đạo.
Thành Côn nhảy lùi, cười khẩy:
“Thạch viên ngoại?
Ha ha, hắn giàu có nhưng keo kiệt, nữ nhi hắn thì sao?
Bề ngoài đoan trang, nhưng khi không mảnh vải che thân, chúng còn cầu ta hoan lạc!
Ta là đang giúp đời, giúp người, các ngươi không hiểu nổi lòng ta!
” Y vung đao chém ngang, lưỡi thép lóe sáng, nhắm vào cổ tên cao lớn.
Tên ấy dùng kiếm gạt “keng” lực đạo mạnh khiến cả hai lùi lại.
Tên gầy lao lên, song đao chém liên hồi như mưa:
“Còn huyện lệnh huyện Tùng Dương, y phẩm hạnh tốt đẹp, vừa cưới thêm thê thiếp mới, thứ súc sinh nhà ngươi trói y lại, xâm hại thê thiếp của y,sau đó còn treo trhi t-hể thê thiếp ngoài cổng huyện, khoét lưỡi mắt y, thả sống cho huyện lệnh bị bàng tán, người làm cho Đại Yến mất một trung thần!
” Đao quang lấp loáng, kiếm ảnh chồng chéo, ba người lao vào nhau như ba con thú dữ, Thàn!
Côn chỉ bị thương nhẹ nhưng hai người kia thở dốc, mồ hôi đẫm áo, vẫn vây đánh hăng hái Tên cao lớn quát:
“Thành Côn, mau khoanh tay chịu trói, bọn ta nể tình đồng liêu xin bệ hạ khoan hồng cho ngươi c:
hết êm ái!
” Trường kiếm vung mạnh, chém xéo từ bên, buộc Thành Côn né sang phải, y cười lớn:
“C-hết êm ái?
Ta thà chiến đấu đến hơi thở cuối!
Các ngươi nghe cho rõ đây, Ta là Thành Côn” Thanh đao vung lên, chặn song đao của tên gầy “keng kengf tia lửa bắn ra, ÿ xoay người đá vào chân tên cao lớn, nhưng bị tên gầy dùng đao chặn lại, cả ba lùi ra, trận chiến khốc liệt tiếp diễn, tiếng kim loại và lời đối đáp đầy căm phần vang vọng trong đêm.
Cuối cùng, sau một loạt đòn tấn c-ông dữ dội, Thành Côn bị hai đại nội mật thám trọng thương, máu chảy đẫm áo, khóe miệng máu tươi trào ra,trong khi tên gầy cũng bị một nhát đao từ Thành Côn đâm trúng vai tên gầy,khiến y ngã quy, thở hổn hến.
Thành Côn lùi ra sau, chân chạm vách đá, y nhìn xuống vực sâu hun hút không thấy đáy, gió lạnh thổi qua làm áo bay phần phật.
“Ngươi cùng đường rỒi.
H!
” cùng tên lính còn lại, nhưng Thành Côn chợt xoay lưng, nhảy xuống vực trong ánh mắt kinh ngạc của mọi người.
Cả đám đại nội mật thám tiến lên, nhìn xuống vực sâu hun hút không thấy đáy, tên gầy cầm song đao chọt bảo:
“Tản ra, xuống dưới tìm!
Sau khi đến Vân Quang Tự được hai ngày, Chu Tử Tiêu cảm nhận rõ không khí nhộn nhịp của chùa lớn nhất kinh thành.
Mỗi ngày, khách hành lễ đông như trẩy hội, tiếng chuông chùa ngân vang hòa cùng tiếng niệm kinh kệ, khói nhang nghi ngút bốc lên từ các lư hương bằng đồng cổ, khiến không gian thoảng mùi trầm hương thơm ngát nhưng cũng làm y hoa cả mắt vì sự hỗn loạn.
Dưới mái hiên chùa, những hàng người quỳ lạy trước tượng Phật Như Lai mạ vàng lấp lánh, tiếng tụng kinh vang vọng từ khắp các điện thờ, hòa cùng tiếng bước chân rầm rập của đám đông.
Đồ ăn dọn ra toàn món chay —rau luộc, nấm xào, đậu hũ chiên— không một chút rượu, khiết Chu Tử Tiêu buồn chán đến phát ngán, ngồi gảy gảy đôi đũa trong chén cơm trắng nhạt nhẽo, thầm nhớ hương vị cay nồng của tửu lâu quan ngoại.
Ba tên đồng hành —giữ vẻ bí ẩn, ít nói— dường như không muốn giao tiếp nhiều, chỉ thỉnh thoảng dẫn y ra quán tửu lầu thưởng thức không khí kinh thành, nhưng chỉ vào buổi trưa, khi binh lính nghỉ ngơi, tuần tra thưa thót.
Không phải họ sợ, mà vì lâu lâu binh lính hay kiểm tra mộc bài lộ dẫn, họ lo Chu Tử Tiêu phát hiện thân phận triều đình, lỡ lộ ra chủ nhân là vương gia, e rằng mông sẽ ăn đủ.
Chu Tử Tiêu tuy không rõ ngọn ngành, nhưng cũng đoán bọn họ không đơn giản —trên đường đến kinh thành, quân lính chỉ thoáng xem mộc bài rồi bỏ qua, không hỏi han kỹ;
đến kinh thành, được tá túc tại Vân Quang Tự —ngôi chùa to nhất, nếu không phải người quyền quý hay hoàng thân quốc thích, phương trượng sao dám dễ dàng đồng ý?
Ban ngày, chùa tấp nập như một thị trấn nhỏ.
Ánh nắng xuyên qua tán cây cổ thụ, chiếu lên những mái ngói cong vrút, phản chiếu ánh vàng rực rỡ.
Khách hành lễ nối đuôi nhau dâng hương, tiếng cười nói xen lẫn tiếng kinh kệ, thỉnh thoảng có tiếng trẻ con khóc ré lên giữa đám đông.
Các tăng nhân trong áo cà sa nâu sẫẵm bước đi nhẹ nhàng, tay cầm kinh thư, miệng niệm Phậ hiệu, dẫn khách tham quan các điện thờ trang nghiêm.
Một nhóm tăng nhân trẻ tuổi khuân vác nước từ giếng đá, đổ đầy thùng gỗ để tưới cây hoa cúc vàng rực quanh sân, trong khi những người khác lau chùi tượng Phật bằng khăn mềm, ánh đồng loáng lên dưới nắng trưa.
Tiếng gõ mỡ từ tháp chuông vọng xa, gọi mời khách thập phương, khói nhang bốc nghĩ ngứi tạo thành màn sương mỏng, khiến khung cảnh vừa linh thiêng vừa huyền ảo.
Đến chiều, chùa đóng cửa, khách dần thưa thớt.
Tăng nhân tập trung dùng cơm chay trong đại đường Sau bữa ăn, họ nghỉ ngơi khoảng một khắc, ngồi thiền dưới bóng cây bồ để, tiếng lá xào xạc hòa cùng hơi thở đều đều.
Khi trời chập tối, cả chùa tập trung tại thiền viện trước tượng Phật Như Lai cao lớn, ánh nến lập lòe chiếu lên khuôn mặt trang nghiêm của các tăng nhân, tiếng kinh kệ trầm bổng vang lên suốt một canh giờ, như sóng nước đập dìu trong không gian tĩnh lặng.
Sau đó, họ phân công công việc:
có người cầm rìu bổ củi, tiếng “cắc cắc” vang lên đều đặn bên đống gỗ khô;
người khác cặm cụi chép kinh dưới ánh đèn dầu, nét chữ ngay ngắn trên giấy vàng;
một nhóm quét dọn sân chùa, chổi tre khua trên nền đá phát ra âm thanh xào xạc;
có người rửa chén bên giếng nước, tiếng nước chảy róc rách;
người khác thu đồ phơi—y Phục cà sa và khăn lau—gấp gọn gàng;
vài tăng nhân thay tim đèn, đổ dầu mới, ánh sáng vàng ấm áp lan tỏa trong các điện thờ.
Mỗi người mỗi việc, ca trực được sắp xếp đâu ra đó, chùa dần chìm vào sự yên tĩnh, chỉ còn tiếng gió nhẹ và tiếng niệm Phật thầm thì từ phòng thiển.
Hủy
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.
Không có bình luận.
Đang tải...
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Ghi nhớ đăng nhập