Chương 41: Huyết Hỏa Diệt Tích

Chương 41 :

Huyết Hỏa Diệt Tích Trong căn nhà nhỏ, Lưu Tam nhường gian ngủ vốn dành cho hai cha con cho Huyền Phù, mong đạo sĩ dưỡng lực để rạng mai lập đàn.

Bản thân y nằm ở bếp, còn Lưu Nguyên cùng Thạch Kính (Thành Côn trá hình)

ngủ ngoài phòng khách.

Vì háo hức chuyện đổi mệnh, Lưu Tam trằn trọc khó ngủ, thỉnh thoảng lại bấm ngón tay tính giờ;

nhưng sau một ngày dài, y cũng thriếp đi giữa đống rơm ẩm, hơi thở đều đều vang lên trong bóng tối.

Huyền Phù thay đạo bào treo lên, chỉ mặc áo nội y, trong lòng mừng thầm:

chịu khó thức một đêm mà kiếm được cả trăm lạng bạc;

chưa biết chừng, nếu Thạch Kính mời về kinh thành, lại còn kiếm thêm một khoản.

Ngoài phòng khách, Thạch Kính nằm một chốc, chờ cả nhà chìm vào.

giấc say, bèn mở mắt với ánh nhìn lạnh lẽo.

Y rón rén tiến sát Lưu Nguyên đang xoay lưng, rút sợi dây thừng trong túi, vòng qua cổ mà siết.

Bàn tay y rắn như gọng kìm.

Lưu Nguyên giật bắn tỉnh, mắt trừng trừng, tiếng khò khè nghẹt lại nơi cổ họng, nước đãi trào ướt vạt áo;

đôi tay nhỏ xíu cào cấu vô vọng vào sợi dây thô ráp cứa da.

Mắt đứa nhỏ đỏ ngầu vì đau và sợ, thân thể giẫy như cá mắc cạn.

“Thạch Kính, mục quang long sòng sọc, diện mạo dữ tợn khác hẳn vẻ hiển lành thường nhật;

trong lòng y dâng khoái cảm biến thái, khóe môi nhếch cười khẽ, cố ý kéo dài giây khắc tuyệ vọng của hài tử, rồi mới siết mạnh hơn.

Đến khi Lưu Nguyên mềm oặt hẳn, máu từ khóe miệng rịn ra thẩm đỏ vạt áo, căn phòng ngột ngạt mùi tanh tử khí.

Ý buông dây, lặng nghe tịch mịch.

Đứng đậy, y khéo tay cạy khóa, lén vào phòng Huyền Phù.

Đạo sĩ ngáy khò khè—giấc ngủ sâu của kẻ tham tài.

Thạch Kính khép cửa, tới án thư, thò tay lôi thanh dao găm trong túi của Huyền Phù.

Bóng y đổ dài dưới vệt trăng lọt song.

Y rón rén áp sát giường:

một tay bịt kín mũi miệng, tay kia lia lưỡi thép ngang cổ.

“Xoet”—máu tươi phun trào như suối, đỏ thâm chăn gối;

Huyền Phù ú ớ như heo bị chọc tiết, tứ chi đạp quẫy trong vô vọng, tia máu bắn cả lên tường, mùi tanh nồng xộc thẳng vào mũi khiến gian phòng thêm ghê rợn.

Thạch Kính trở cán dao, đâm thật mạnh lần nữa ngay yết hầu.

Cảm giác lưỡi thép cắt qua da thịt khiến y run lên vì khoái lạc bệnh hoạn.

Huyền Phù giãy một chốc, rồi gục hẳn, mắt còn mở trừng trừng đầy oán hận.

Thạch Kính thở đốc—y mới bình phục không bao lâu, ra tay một lúc cũng hao tổn khí lực— song đuôi mắt vẫn lóe tia đắc ý lạnh băng.

Tiếng động khẽ vang nơi bếp.

Lưu Tam trở mình toan ngồi dậy, lại nghĩ quấy rầy đạo sĩ, bèn nằm im.

Thạch Kính men ra cửa nhà sau, mở nhẹ.

“Đến giờ rồi hả, đạo trưởng?

—Lưu Tam bật dậy, thấy Thạch Kính thì khẽ hỏi —“Có việc chỉ chăng, Thạch huynh?

Thạch Kính mim cười:

“Huyền Phù đạo trưởng gọi Lưu huynh sang phòng, có đôi điều căn dặn;

hỏi đã chuẩn bị đủ ngân lượng chưa.

” Tay sau lưng y đã nắm sẵn chuôi dao găm.

Lưu Tam cau mày làu bàu:

“Chưa lập đàn đã hỏi bạc.

” nhưng không dám lớn tiếng, sợ đạo sĩ phật ý.

Y thò tay vào đống rơm lôi bọc bạc, đứng dậy rảo bước qua cửa.

Thạch Kính lách qua nhường lối.

Lưu Tam chọt ngửi mùi tanh tanh lạ, vừa quay đầu, chưa kịp mở miệng thì lưỡi thép đã lút vào bụng.

Lưu Tam sững người, hai tay ôm lấy lưỡi dao, đôi mắt bừng kinh hoàng lẫn đau đớn:

“Ngươi.

ngươi.

tại sao?

Máu ồng ộc trào ra, thấm ướt áo.

Lưu Tam bấu víu vai y, thân thể run rẩy.

Thạch Kính, gương mặt dữ tợn, lời nói băng giá:

“Bởi tại hạ cần trốn khỏi đây, cần ngân lượng cho hành trình.

Kiếp sau ngươi và con ngươi sẽ được cải số;

nay coi như tại hạ thay ngươi làm chút việc thiện nhỏ nhoi này.

” Dứt câu, y ấn sâu lưỡi dao.

Lưu Tam khụy xuống, mắt vẫn mở, hơi thở đứt đoạn trong tiếng rên yếu ót, rồi lịm.

Thạch Kính thu sạch ngân lượng trong tay Lưu Tam, quay vào phòng Huyền Phù lục lấy lộ dẫn, mộc bài, khoác bộ đạo bào mới, đeo túi.

Y dựng hiện trường:

nghiêng tim đèn cho dầu l-oang mép, bày như thể Huyền Phù làm rơi đèn trong phòng;

ngoài phòng khách, kéo cha con Lưu Tam nằm cạnh nhau.

Đoạn y ra sân khép cửa, bưng củi từ kho chất vòng quanh nhà, châm mồi.

Lửa bắt nhanh, gỗ nổ lách tách, khói đen bốc ngùn ngụt, mùi thịt cháy khét tỏa đầy ngõ.

Thạch Kính lặng lẽ men lối mòn sau vườn rời thôn, thân khoác đạo bào, bóng dài nuốt vào đêm đen.

Trong lòng y, dư vị khoái cảm của những cái chết vừa gieo như thứ độc dược ngọ —càng đi, ý cười càng lạnh.

Tờ mờ sáng, sương mịn còn.

vắt ngang lối, Viên Kính Dạ dẫn hai thủ hạ ghé quán mì ven đường.

Hơi nước bốc lên nghi ngút, mùi tương đậu và hành phi lẫn với gió sớm.

Y vừa gọi ba bát mì thì ở bàn đối diện, hai ba gã nông phu cũng xì xụp.

Một gã bỗng hạ đũa, nói khẽ mà rành rọt:

“Các huynh biết chuyện chưa, nhà Lưu Tam.

c.

hết hết rồi.

” Gã thứ hai ngạc nhiên:

“Hôm qua còn thấy hắn đi chợ mua rượu thịt.

Sao nay lại.

?

“Cháy nhà.

Nghe bảo trong nhà lôi ra ba cái xác.

” Một gã khác chen lời, giọng người trong thôn:

“Ta cùng thôn với Lưu Tam.

Hôm qua hắn sang nhà thôn trưởng, cầm cố vay sạch nhà cửa với ruộng đất.

Ta có mặt ở đó, hỏi vì sao, hắn chỉ cười rằng sắp “thăng quan phát tài.

Ta gặng nữa cũng không nói.

” Gã ban nãy gật gù:

“Kể cũng lạ.

Lưu Tam xưa nay chắt bóp, dồn cả vào thằng con cho nó ăn học nên người.

Thế mà dạo gần đây lại xài bạc như nước:

mua rượu, đránh brạc, đồng áng còn thuê ta làm thay.

Hỏi phát tài ở đâu, hắn bảo.

mới cứu sống được một kẻ giàu có.

Trong túi kẻ ấy bạc nhiều, chắc người quyền quý, hắn vót dưới sông đem về nuôi, mong sau tỉnh dậy sẽ trả công hậu.

” Ban đầu Viên Kính Dạ không để tâm;

đến câu “cứu kẻ giàu có” trực giác của y khẽ giật.

Y đưa mắt ra hiệu cho hai thủ hạ, rồi quay sang bàn nông phu, ôm quyền mim cười:

“Chư vị huynh đài, tiền mì hôm nay để tại hạ thanh toán.

Chẳng giấu, người kia e là thân quen của tại hạ.

Phiền chỉ giúp nhà Lưu Tam ở chốn nào, để ta tới xem cho tỏ.

” Mấy nông phu nhìn nhau, một người đưa tay chỉ hướng:

“Qua ngã ba kia rẽ trái, cuối xóm là tới.

Nhưng cháy rụi rồi, đi cũng vô ích.

” Viên Kính Dạ không đáp, đứng dậy vén áo lên yên.

Ba ngựa vrút đi, để lại sau lưng quán nhé và mùi hành nóng.

Tới nơi, nhà Lưu Tam chỉ còn khung cháy đen, tro tàn còn âm ỉ, khói lẫn mùi than khét.

Viên Kính Dạ nhíu mày, đảo mắt một vòng:

“Chia ra.

Một người vòng sau vườn, một người sang bìa xóm.

Gặp ai cũng hỏi kỹ.

” Hai thủ hạ “tuân lệnh” rồi tản đi.

Y bước chậm quanh nền nhà sụp, cúi nhặt một mảnh vải cháy sém, đưa lên mũi —chỉ còn mùi dầu đèn và khói.

Ra đến ngõ, bắt gặp một lão nông ngổ tựa cuốc, Viên Kính Dạ lấy trong tay áo ra thỏi bạc nhỏ, khẽ nhét:

“Lão trượng, phiển kể cho tại hạ nghe việc nhà Lưu Tam nghe bảo y từng cứu sống một người,không giấu gì lão bá,tại hạ đang tìm vị huynh đệ thất lạc của mình,có thể người lưu tam cứu là y.

“ Lão nông nhìn thỏi bạc, thở dài:

“Nhà Lưu Tam chỉ còn hai cha con,y tên Lưu Tam,con trai y tên Lưu Nguyên;

vợ y đã mất khi sinh đứa nhỏ.

Vài hôm trước, Lưu Tam cứu một kẻ lạ mặt, rồi chạy sang gọi ta qua phụ băng bó.

Người ấy ăn mặc khác thường, chẳng giống dân quê bọn ta, chừng ba mươi, trên mình chỉ chít sẹo.

Sáng nay ta thấy nhà y bốc lửa dữ dội, vội hô người tới dập.

Đến khi lửa tắt, vào trong thì cha con Lưu Tam đều đã c:

hết;

trong phòng còn một xác nằm guc trên bàn — ta đoán chính là kẻ được cứu dạo nọ.

"

“Lạ thế nào?

Trên áo có dấu tích gì chăng?

Viên Kính Dạ hạ giọng.

Lão gãi đầu:

”Ò.

nhớ rồi.

Sau lưng áo thêu một đóa hoa—nửa trắng nửa đỏ.

Trông như hoa.

phù dung.

“Phù dung?

Viên Kính Dạ khựng nửa nhịp, mắt lóe lên.

Trong trí y thoáng hiện bóng người xưa:

Thành Côn thích nhất loài hoa ấy, thường cười rằng “tên hoa giống kiếp người:

sớm nở tối tàn.

Áo hắn, quả có thêu phù dung hai sắc.

Viên Kính Dạ ôm quyền cảm tạ lão, lên ngựa quay đầu, giọng đanh lại:

“Chính hắn.

Viết thư hỏa tốc báo Trương Đề đốc:

đã phát hiện vết tích.

Tập hợp tất cả nhân thủ của ta quanh Húy Châu —mở lưới mười dặm.

Từ quán rượu, y quán, dịch quán đến bến sông, bờ ruộng, sơn trại —lục soát từng.

tấc.

Hắn thương thế chưa lành, chưa đi xa được.

” Hai thủ hạ đồng thanh:

“Tuân lệnh!

” Sau khi hoán y thành đạo bào của Huyền Phù, Thạch Kính đội mũ viền đen, vạt áo cài chỉnh tê gắn thêm râu, tay kẹp quyển phù thư cũ.

Đi đường, y vừa lần giở sách vừa bắt chước bộ pháp của đạo sĩ—bước khoan thai, mắtlim dim, mỗi khi dừng lại lại khẽ vẫy phất trần giả làm phép trừ uế.

Hỏi thăm qua vài trạm dịch, y thuận miệng xưng “bần đạo” lời lẽ hòa nhã.

Kẻ đưa bầu nước, người tặng nắm cơm, có bà lão dúi quả lê vào tay:

“Đạo trưởng đi hành hương vất vả, xin dùng tạm.

” Y nhận mà gật đầu, trong lòng tính đường kế tiếp.

Qua ngả rẽ thứ ba miền Bình Giang, bầu trời quang dần, đồng lúa lùi lại sau lưng nhường chỗ cho những dãy tùng, trúc xanh rì.

Đến lưng chừng dốc, một cổng trang đồ sộ hiện ra, biển đá khắc bốn chữ to, bút thế nghiêm nhã:

“Tùng Trúc Băng Trang”.

Y dừng nửa khắc, ngẩng nhìn chữ, rồi thong thả bước vào.

Hai bên đường lát đá thanh, nhà cửa chỉnh tể mà không khoe của.

Bên tả là một trà quán má:

ngói rêu phong, bảng đề “Tùng Âm”;

hơi trà bốc lên thơm dịu, vài lão sinh áo dài xanh đang luận “chuyện thiên hạ” tiếng nói khẽ mà rành rọt.

Kế đó là “Băng Tuyển Thư Điểm” bày sách kinh sử, tập khảo, giấy vàng, bút thỏ, nghiên đá —mùi mực tươi phảng phất.

Một tiểu đồng ngồi trên ghế con đọc trọ tre “Nhân bất học bất tri lý.

” ông chủ mỉm cười vỗ vai, nắn tay cậu ta viết lại một hàng chữ.

Bên hữu dựng “Trúc Ảnh Họa Xá” mành trúc kéo nửa, treo mấy bức mai-lan-cúc-trúc, nét bút thanh thoát.

Một nho sinh trẻ đang mua giấy quỳ, ghé mắt ngắm tranh, khe khẽ luận bút ý với họa công.

Xa hơn chút là một phường khắc mộc bản, búa khẽ gõ vào bản in, tiếng cộp cộp đều như nhịp thỏ.

Lại có quầy bán tiêu sáo, người bán thử vài cung, tiếng tiêu lảnh lót bay theo gió.

Dọc phố, thư sinh qua lại không đồng mà cũng chẳng thưa— khuôn mặt sáng sủa, áo mũ gọt gàng;

dân phu vác bó trúc đi chầm chậm, thỉnh thoảng dừng tay nghe một khúc đàn tỳ bà vọng ra từ hiên trà.

Có chiếc xe sách do hai thiếu niên đẩy, trên chất đầy tập vở đóng chỉ đỏ, đi ngang thì nhường lối rất cung kính.

Khí vị tổng hòa:

thanh đạm, nho nhã, mà không vắng về.

Quán trọ y đến nép dưới mái ngói rêu, biển gỗ đề “Trúc Ẩn Lữ”.

Y bước vào, chắp tay:

“Bần đạo đường xa, xin một gian tịnh xá, một bầu rượu ấm,vài món mặn .

” Tiểu nhị dạ ran, bưng.

trà lên.

Thành Côn sau khi tắm rửa,thay một bộ y phục khác,ngồi chỗ khuất, lưng dựa cột, vừa ăn chậm vừa lắng tai,mắt nhìn ra đường Thành Côn ngoắc tiểu nhị lại, giọng ôn hòa:

“Tiểu huynh đệ, “Tùng Trúc Băng Trang' nơi đây thế nào?

Bần đạo được mời làm pháp sự, muốn dò trước đôi điều để mai tiện xưng hô, khỏi thất lễ với gia chủ.

” Y kín đáo lòn mấy đồng bạc.

Tiểu nhị hai mắt sáng rỡ, cúi mình đáp:

“Quanh dải phố này, đất đều thuộc nhà họ Băng cả.

Băng gia vừa mở sách đường dạy học, vừa làm thương cuộc buôn gạo—kho xay, kho chứa đặt dọc bến nước phía đông.

Chư hộ thuê đất lập quán, mở thư điểm, họa xá.

đều đóng tiền đất hằng tháng cho Băng gia, mà gi:

chừng mực, chẳng hề chèn ép, bởi vậy ai nấy đều kính phục.

” Y hạ giọng kể rành rẽ:

“Xưa Băng Tuyển lão sư danh đức vang xa:

sớm giảng Tứ Thư Ngũ Kinh, chiều rèn bút mực, tối lại thắp đèn so sách cho các trò nghèo;

gặp vụ đói thì lấy gạo kho phát chẩn.

Nay lão sư quy tiên, việc trong-ngoài do gia chủ Băng Tĩnh Khiêm đảm đương.

Gia chủ đã lập thất, có hai người con:

công tử Băng Doãn Trung văn võ song toàn song ưa võ hơn văn, thường luyệt thương quyền ở bãi trúc sau trang;

còn tiểu thư Băng Linh đã rời thôn đã lâu, bất tri tung tíc!

mỗi kỳ tết đến vẫn thấy gia chủ thắp hương cầu bình an.

” Tiểu nhị lại chỉ ra ngoài cửa sổ, giọng kính cẩn:

“Ngày thường, Băng Tĩnh Khiêm hạ trang xuống phố coi việc dạy học và trông sổ điển, rồi mới hổi trang theo lối rừng trúc.

Người nghiêm mà hậu, ghét phô trương.

Khách lạ muốn vào bái, chớ gõ thẳng đại môn;

nên dừng ở bình phong trúc trước cửa, trình thiệp sẽ có gia đinh dẫn lối.

Nhờ Băng gia giữ phép, sửa đường, đắp giếng, lại bán gạo rẻ khi mất mùa, nên dân quanh đây tôn kính như ân chủ—nhắc tới đều một lời đức trọong'.

” Thành Côn Nghe xong khẽ gật đầu.

Đêm xuống, gió bấc lùa qua phên trại.

Trong gian phòng mượn tạm của dịch quán, đèn dầu chao nghiêng, ánh lửa hắt bóng người lên vách.

Viên Kính Dạ ngồi dựa lưng ghế trúc, hai ngón tay xoa mi tâm đã mỏi.

Trước mặt là bản đồ thô của mấy thôn xóm, ghim vài mũi trâm gỗ đánh dấu nơi đã lục soát.

Bọn đại nội mật thám lần lượt vào bẩm:

“Bẩm Đề đốc, bọn thuộc hạ tản ra xung quanh tìm khắp các tửu lầu, y quán, dịch quán, phòng trọ.

đều đã hỏi.

Vẫn vô tung.

” Y khẽ “ừ” mắt trầm như nước giếng.

Đột nhiên Viên Kính Dạ bật đậy, áo choàng khẽ động, .

Thuộc hạ nhìn nhau chưa hiểu chuyện gì y chậm rãi hỏi:

“Các ngươi còn nhớ sáng nay bọn nông phu và lão nông.

kể những gì chăng?

Một người tiến ra nửa bước, ôm quyền:

“Bẩm, họ nói chuyện nhà Lưu Tam bị cháy, trong nhà có ba cái xác.

Lưu Tam khoe từng cứu.

một kẻ vớt dưới sông.

Chúng ta đoán người y cứu chính là Thành Côn.

” Viên Kính Dạ vòng qua bàn, ngón tay gõ nhịp lên mảnh gỗ:

“Nhà ấy chỉ có hai cha con—Lưu Tam và Lưu Nguyên, vợ chết đã lâu.

Nếu người Lưu Tam cứu là Thành Côn, vậy cái xác thứ ba trong nhà kia là ai?

Lại nói, ở chân vực hôm nọ, hắn còi dám nhảy;

với tính nết ấy, há dễ gì tự làm chuyện dại dột?

Cả phòng khựng lại.

Một mật thám bỗng ngẩng đầu:

“Bẩm Đề đốc.

hay là “kim thiền thoát xác ?

“ Mấy người khác liếc nhìn y;

kẻ nọ nói tiếp, giọng nhỏ mà chắc:

“Thuộc hạ nghĩ, do ta lục soát gắt quá, hắn thấy áp lực bèn mượn xác ai đó thay thân, phóng hỏa diệt tích.

còn bản thân đã lén đi từ trước.

” Khóe môi Viên Kính Dạ hơi nhích, ánh mắt lạnh lóe lên:

“Khá” Y chỉ tay lên bản đồ:

“Chia ba đội.

Đội Nhất — sáng mai lục soát hành động của Lưu Tam trong ba ngày gần đây:

hắn gặp ai, nói chuyện với ai.

Đào cho ta từng lời đồn đến khi ra đầu mối.

” Y quay sang cửa sổ đen thẩm, dặn tiếp:

“Đội Nhị—mang theo họa tượng, tỏa ra mười dặm:

chợ, bến nước, bến trạm, chùa quán, Phường thọ.

gặp ai cũng hỏi, đặc biệt kẻ ăn vận khác lạ, nói giọng không thuần.

Có dấu vết lập tức báo về”

"

Đội Tam—đi kiểm tra xem trong ba ngày nay quanh thảo lĩnh thôn,có ai mới chết không,ngoài ra tìm kiếm xem thảo lĩnh thôn trong ba ngày nay có ai đến và đi"

“Thuộc hạ tuân lệnh!

“Đi” Tiếng bước chân tản ra trong hành lang, đèn nơi dịch quán chợp tắt chợp sáng.

Còn lại một mình, Viên Kính Dạ đứng im trước cửa sổ, gió đêm tạt mùi tro khét còn vương từ xóm cháy.

Y khẽ tự nhủ, như lưỡi dao giấu trong vỏ:

“Ngươi đã chọn mùi lửa để xóa dấu — vậy ta sẽ dùng mùi người mà lần theo.

Thành Côn.

ngươi chưa đi xa được đâu.

Bình luận


Không có bình luận.

Cấu hình

Báo cáo

Bình luận

Đang tải...

Bạn cần đăng nhập để bình luận.

Đăng nhập