Chương 3: Muốn Làm Nông Dân.

Chương 3:

Muốn Làm Nông Dân.

Sau khi kết thúc tiết ngữ văn Văn, không khí trong lớp vẫn còn rộn ràng bởi dư âm của bài kiểm tra, khi nói về ước mơ nghề nghiệp, có người tự tin khoe mình làm nghề này nghề nọ, nhưng cũng có người tự ti không muốn tiết lộ, sợ thua kém hoặc là không tự tin bản thân có thể làm nghề đó trong tương lai.

Tiếng bàn tán dần bị thay thế, tiếng gõ thước lên bàn vang lên.

Lan, lớp trưởng của lớp cô be cao ráo, da trắng, tóc dài và mượt ngang hông.

Không chỉ học giỏi mà rất có khí chất.

Lan đứng trên bục dõng dạc thông báo trước lớp.

“Thông báo nóng hổi nhé!

Cô Linh dạy Toán, sắp mở lớp bồi dưỡng cho học sinh lớp Chín chuẩn bị thi cuối cấp.

Lớp học sẽ kéo dài từ giờ cho đến khi thi, chỉ nhận tối đa hai mươi bạn thôi!

ai tham gia thì đăng ký để mình lên danh sách nhé.

Vừa dứt lời, cả lớp liền xôn xao như tổ ong vỡ.

Lớp 9A vốn là lớp chọn, nơi tập trung gần như toàn bộ học sinh ưu tú của trường.

Đối với kì thi chuyển cấp, hầu hết các họ sinh lớp này chẳng có mấy lo lắng mà vẫn dễ dàng vượt qua.

Nhưng nếu là thi vào trường Chuyên ở ngoài thành phố thì lại khác.

Đó là cánh cửa danh giá, cái mác học trường chuyên nghe oai hơn học trường làng.

Cơ hội thi đỗ đại học cao hơn.

Ngày ấy đại học là cái gì đó rất danh giá, phải trải qua thi cử khó khăn lắm mới vào được, chứ không đơn giản là xét điểm như hiện giờ.

Lớp bồi dưỡng này mở ra không phải cho “họ.

sinh yếu” không lên được cấp 3 mà mà chính là cho những học sinh có tham vọng thi trường chuyên hoặc các ngôi trường có điểm chuẩn cao hơn.

Trong ký ức, Quốc còn nhớ cậu từng tham gia lớp học thêm này.

Cô Linh được coi là giáo viên dạy Toán giỏi nhất của trường, giảng bài chất lượng, phương pháp dạy khoa học và chặ chẽ, lại biết cách khơi gợi hứng thú.

Nhờ những buổi chiều cặm cụi ở lớp cô, cộng thêm sự n lực, Quốc đã thi đỗ trường Chuyên, và là học sinh duy nhất của trường làm được điều ấy năm ấy.

Hồi ức trôi qua khiến Quốc thoáng sững lại.

Nhưng khi nhìn quanh, thấy bạn bè hối hả ùa đến chỗ Lan để đăng ký, Quốc lại khẽ lắc đầu.

Học phí của lớp bồi dưỡng là năm trăm nghìn một tháng, học hai buổi mỗi tuần.

Với phần lớn học sinh trong lớp, số tiền này không phải nhỏ, nhưng vẫn chấp nhận được, bởi “đầu tư cho tương lai“thì chẳng có gì phải tiếc cả.

Tiếng bàn tán, tiếng cười nói chen lẫn nhau, không khí hệt như một phiên chợ tranh suất.

Thằng Dũng ngồi cạnh huých nhẹ vai Quốc, ghé sát hỏi nhỏ:

“Mày không đi đăng ký à?

Cô Linh mát tay lắm đó học sinh của cô có người thi trường chuyên, không thi cũng đủ điều kiện học ngoài trường thị trấn.

Quốc mỉm cười, lắc đầu:

“Sau này tao làm nông dân mà, không cần học nhiều vậy đâu.

Nói rồi, cậu thản nhiên xách cặp, hướng ra cửa.

Lời nói ấy vừa buông ra, lập tức khiến Dũng sững sờ.

Cậu ta còn chưa kịp phản ứng, thì từ phía sau, giọng Lan gọi với theo.

“Quốc!

Không định đăng ký học thêm chỗ cô Linh à?

Chỉ nhận hai mươi người thôi đấy” Quốc quay đầu lại, ánh mắt điềm nhiên, nhún vai một cái:

“ Không đâu.

Rồi cậu rảo bước bỏ đi, dáng vẻ khoan thai như thể quyết định ấy chẳng hề đáng bận tâm.

Lan đứng yên, ngẩn ngơ một thoáng, TỔỒi cau mà đưa tay giữ Dũng lại, hạ giọng hỏi:

“Dũng, mày có biết thằng Quốc bị làm sao không, nó thích học Toán nhất mà.

Dũng nhún vai.

“ Tao chịu, hôm nay nó ngủ gật trong giờ, tỉnh dậy còn không nhận ra tao luôn, còn gọi tao bằng cháu.

À.

còn vụ bài văn, nó viết là sau này muốn làm.

nông dân.

Tin được không?

Lan lớp trưởng tròn mắt.

“ Thật á?

“Thật.

Tao ngồi cạnh, đùa mày làm gì.

Cả mấy đứa bạn đứng gần nghe lỏm được liền ồ lên bàn tán.

Người thì nói Quốc học quá nhiều nên “tẩu hỏa nhập ma” người thì bảo cậu chỉ đang giỡn, hoặc làm màu.

riêng Lan việc Quốc không học thêm khiến cô nàng có chút hụt hằng, mặc dù bản thân là họ‹ sinh ưu tú nhưng riêng môn Toán, cô nàng vẫn có chút ngưỡng mộ với Quốc, thường xuyên hỏi mấy bài khó.

Trao đổi với nhau cũng vỡ ra nhiều điều, người ta vốn nói, học thầy không tay học bạn mà.

Lan bất đắc dĩ chốt danh sách, tổng cộng mười chín người đăng ký.

Tất cả đều là những học sinh tốp đầu, gia cảnh khấm khá, đa phần lại cùng hội cùng nhóm nên đi học thêm cũng coi như đi cùng nhau.

Dũng rốt cuộc cũng ghi tên, một phần bởi không muốn tụt lại sau, một phần lại tin rằng thằng bạn thân chỉ đang nhất thời “nói ngược” chứ không đời nào bỏ qua c hội quý như vậy.

Kết thúc buổi học, Quốc thong thả đạp xe về nhà, bánh xe nghiến lên mặt đường đất khô kêu cọt kẹt, nhịp đều đều như hòa cùng dòng suy nghĩ đang chảy trong đầu cậu.

Dẫu chơi chung một nhóm toàn học sinh khá giỏi, trong mắt thầy cô và bè bạn, Quốc là một trong những gương mặt ưu tú nhất.

Nhưng sâu trong lòng, cậu hiếu rõ mình và những người kia vốn chẳng cùng một xuất phát điểm.

Bọn bạn là con của công chức, giáo viên, ÿ sĩ.

Gia đình nào cũng có nền nếp, cha mẹ gọn gàng trong áo sơ mi, áo blouse, bước ra khỏi nhà là được người đời kính trọng.

Còn Quốc thì khác.

Cậu đến tận giờ này vẫn chẳng nắm rõ công việc thực sự của cha mẹ.

Ba thì thất thường, có tháng đi làm công trình cùng người ta, có tháng lại ở nhà, công việc lúc có lúc không.

Mẹ thì chẳng khi nào ngơi tay.

Bàn tay gầy guộc của bà lúc nào cũng tất bật, kiếm từng đồng lẻ để chắp vá cuộc sống.

Nguyên do cũng chẳng xa lạ gì.

Mấy năm trước, ông nội Quốc lâm bệnh n-an y:

, con cháu khắp nhà phải chạy vạy vay mượn khắp nơi để chữa trị.

Hai năm ròng rã cầm cự, cuối cùng ông cụ vẫn ra đi, để lại sau lưng một khoản nợ chồng chất.

Kể từ ngày đó, ba mẹ Quốc gần như không còn biết thế nào là nghỉ ngơi.

Dù gia đình khó khăn, nhưng chưa bao giờ họ để Quốc thiệt thòi.

Quốc cúi đầu, mím môi.

Trong trí nhớ của cậu, hình ảnh về gia đình luôn gắn liền với những gánh nặng ấy.

Sau này, khi đỗ trường chuyên và ra thành phố học, chi phí học phí, sinh hoạt lại chồng chất thêm, khiến đôi vai ba mẹ càng oằn xuống.

Ngày đó, Quốc đã tự hứa với lòng mình:

phải học thật giỏi, phải thành tài, để kiếm thật nhiều tiền phụ giúp gia đình.

Và cậu đã làm được.

Mấy năm miệt mài đèn sách, rồi những năm tháng đi làm, cuối cùng.

chính tay Quốc đã trả hết số nợ cho nhà.

Nhưng có lẽ, chính quãng thời gian mười năm xa cách ấy đã bào mòn mối dây liên kết với gia đình.

Khi trách nhiệm đã hoàn thành, Quốc bỗng thấy lòng mình trống trải, thờ ơ.

Thay vì quay về quê hương, cậu lại chọn con đường lập nghiệp ở thành phố, đồng ý lời hứa hôn để làm rể xứ người.

Từ đó, cuộc sống của cậu như rẽ sang một hướng khác, không còn là sự quấn quýt quanh mái nhà nghèo khó năm xưa, mà là những tháng ngày bận rộnchốn thị thành.

và cũng.

chẳng mấy khi ngoảnh lại phía sau.

Đạp xe qua hàng tre đầu ngõ, Quốc khẽ thở dài.

Trong làn gió vương mùi lúa chín, cậu nhận ra mình đang sống lại quãng đời thanh xuân, nhưng với tâm thế của một người đã trải qua hết thảy.

Cái cảm giác vừa quen thuộc, vừa xa lạ ấy khiến cậu càng thêm kiên định:

Đây mới chính là nơi cậu thuộc về.

Ba mẹ Quốc ít khi có mặt ở nhà.

Thường đến tối muộn họ mới trở về, Còn Quốc, hồi ấy cũng ít khi ở nhà một mình;

đa phần cậu thường tụ tập ở nhà bạn để học nhóm.

Ba mẹ của bạn bè, vốn quý mến cậu do cậu học giỏi nên hay mở lời:

“Quốc cứ đến chơi thường xuyên, cùng nhau học hành mới tiến bộ.

Nhờ thế, Quốc được hưởng ké những tiện nghi của con nhà khá giả:

bàn học sáng bóng, giá sách ngay ngắn, bữa ăn đầy đủ.

Lâu dần, trong lòng Quốc sinh ra thứ ảo tưởng ngọt ngào về sự giàu sang, song song với đó là nỗi chán ghét đối với cảnh nghèo của chính mình.

Có lẽ cũng từ mặc cảm ấy mà sau này, cậu chọn làm rể thành phố, nôn nóng rũ sạch gốc gác quê mùa.

Hôm nay, đạp xe về đến nhà, cái cảm giác cũ lại ùa về.

Căn nhà cấp bốn lợp tôn gỉ sét im lìm.

Chủ nhà đi vắng, không một bóng người, cũng chẳng có tiếng khách khứa qua lại.

Sân vườn um tùm cỏ dại, loài cỏ dại cứng đầu mà chỉ cần vài cơn mưa là mọc um tùm, mẹ Quốc có phát quang một đôi lần cũng chẳng được bao lâu.

Quốc dựng chiếc xe đạp vào hiên, đứng ngẩn ngơ ngó quanh.

Mùi ẩm mốc phả ra từ tường vôi loang lổ, quen thuộc đến khó chịu.

Cậu ngồi xuống bậc hiên, lặng lẽ hít một hơi.

Trong đầu chọt hiện về hình ảnh căn biệt phủ rộng lớn, phòng ốc sáng loáng, vườn tược được cắt tỉa công phu.

nơi mà cậu từng coi như lãnh địa của riêng mình.

So sánh ấy bất giác khiến lồng ngực Quốc se thắt, khó chấp nhận nổi khoảng cách giàu nghèo rõ rệt.

Đi đi lại lại nơi sân trống một hồi, cuối cùng Quốc cũng đành chấp nhận hiện thực.

Cậu khẽ đẩy cửa bước vào trong.

Cách bài trí vẫn y nguyên như ký ức:

tường nhà bong tróc, những vết nứt kéo dài;

ở các góc nhà, mạng nhện giăng giăng, bụi phủ mò.

Khi ba còn ở nhà, bộ bàn ghế còn được chùi rửa, giữ cho tươm tất;

nhưng vắng ông, hai mẹ con sống khá xuề xòa, chẳng mấy khi để tâm.

Chỉ riêng căn buồng của Quốc là khác.

Bước vào đó, không gian gọn gàng hơn hẳn:

góc học tập ngay ngắn, chăn gối xếp phẳng phiu.

Những nếp sống ấy không phải do cha mẹ dạy, mà là thói quen Quốc học lỏm từ những lần đến chơi nhà bạn bè, nơi nề nếp được coi như điều hiển nhiên.

Ở căn phòng này, ít ra cậu còn thấy một chút trật tự, như thể đó là thế giới riêng, tách biệt khỏi sự bừa bộn bên ngoài.

Quốc cất cặp sách vào buồng riêng, rồi thay bộ quần áo đồng phục bằng một chiếc áo thun cũ và quần vải bạc màu.

Ngay khi thả người xuống chiếc giường tre ọp ẹp, cậu đã cảm nhận rõ sự bí bách của không gian chật chội, mùi ẩm mốc len lỏi khắp nơi.

Không thể ngồi yên, Quốc bắt tay dọn dẹp lại căn buồng của mình.

Quần áo cũ, những bộ đã chật ních từ lâu vẫn cất ở đó dù biết sẽ chẳng bao giờ mặc lại, cậu phân loại làm giẻ lau, nhét gọn vào một bao tải.

Giấy vụn, giấy nháp lẫn vở học thêm từ năm trước, cậu cũng gom vào một bao riêng.

Đống chăn màn vón cục, ẩm mùi mồ hôi, đã lâu mẹ chưa giặt.

Hồi bé Quốc vốn chẳng động tay vào những việc này.

Nghĩ đến giờ là buổi chiều, đem ra phơi cũng chẳng kịp khô, cậu quyết định sáng mai sẽ mang ra bờ suối mà giặt.

Ý nghĩ ấy khiến Quốc chợt mỉm cười chua chát, ở thành phố người ta có máy giặt chỉ cần nhấn nút, còr ở đây, giặt giũ lại gắn liền với những phiến đá rêu xanh và dòng nước lạnh buốt.

Dọn dẹp xong buồng riêng, Quốc chuyển ra phòng khách, kiếm cái chổi quét lên những dải mạng nhện, từng lớp bụi bay lên như gợi lại năm tháng bị bỏ quên.

Bàn ghế phủ đầy vết bẩn lau mấy lượt mới lộ ra vân gỗ đã xin màu.

Trong lúc dọn, cậu phát hiện đủ thứ lặt vặt:

chai nhựa, lọ thủy tỉnh, hộp các tông.

toàn đồ cũ, chẳng còn giá trị gì nhưng bị giữ lại vì cái tính hay tiếc của không nỡ vứt.

Ở quê, những thứ ấy bao giờ cũng “để dành” gom thành một đống chất chồng nơi góc nhà, chỉ đến dịp Tết mới có một lần dọn.

Những thời điểm khác trong năm, lúc nào cũng bừa bộn làm căn nhà vốn nhỏ lại thêm phần chật hẹp.

Nghĩ vậy, Quốc tạm chuyển hết chúng ra căn kho nhỏ bên hông, tự nhủ từ từ rồi sẽ tính tiếp.

Cuối cùng đến nhà bếp.

Chỉ vừa đặt chân vào, Quốc đã phải cau mày.

Nơi đây chẳng khác gì một bãi chiến trường:

vách bếp ám khói đen sì, dầu mỡ đóng bết từng mảng, mối mọt gặm nham nhỏ chân gỗ.

Bát thì sứt mẻ, thìa thì hoen gỉ, nổi niêu móp méo.

tất cả bày bừa đến mức khiến Quốc choáng váng.

Cậu không dám tin đây chính là căn bếp mình từng lớn lên.

Cũng đúng thôi, hồi đó cậu đâu có suy nghĩ chín chắn, lại được nuông chiểu, ngày bé chỉ cầr ngồi chờ cơm mẹ dọn ra, chẳng hề bận tâm đến những thứ phía sau.

Cậu cắn răng lôi tất cả ra vòi nước, kỳ cọ từng chiếc một.

Nước bẩn loang lổ, rửa mãi vẫn chưa sạch, đến mức cậu có cảm giác một ngày trôi qua chỉ đểlàm công việc nặng nhọc này.

Lúc ấy Quốc mới thấm thía:

ai nói làm nội trợ là nhàn?

Chỉ cần lười dọn một chút, sau này sẽ phải vất vả gấp mười.

Cuối cùng, Quốc quyết định dứt khoát:

cái gì mẻ, gỉ, xấu xí thì bỏ.

Không thể giữ cái kiểu “tiếc của” như tâm lý người nhà quê được nữa.

Cậu chỉ chừa lại một vài chiếc bát còn nguyên vẹn, mấy đôi đũa sạch sẽ, đủ dùng cho hai ba người.

Những thứ khác, dồn hết ra ngoài không có ý định tái sử dụng vào mục đích ăn uống.

Dọn dẹp xong căn bếp thì trời cũng đã nhá nhem tối.

Bóng hoàng hôn ngoài vườn kéo dài, loang loáng in trên vách tường loang lổ.

Quốc lục lọi trong gian bếp vừa mới dọn, tìm thấy chiếc hũ gạo đặt gọn gàng ở góc kệ tre, còn kha khá đủ cho vài bữa.

Cậu xách nổi ra vo gạo, châm nước, rồi nhóm bếp củi.

Khói cay xộc lên mắt, phải quạt mãi lửa mới bén.

Lúc nồi cơm đặt vững trên bếp, Quốc ngồi chồổm hổm nhìn ngọn lửa liếm quan!

đáy nổi, nước bên trong dần sôi lục bục, sủi bọt trắng, mùi thơm thoang thoảng theo hơi nóng tỏa ra khắp gian bếp.

Một thứ ấm áp lạ thường len lỏi vào lòng cậu, như bù đắp lại những thiếu hụt bên trong tâm trí bấy lâu.

Ngày ở thành phố, chỉ cần vo gạo cho vào nổi điện, bấm nút rồi bỏ đi là xong.

Tiện thì tiện thật, nhưng nó khô khan, vô cảm.

Còn cái cảm giác ngồi chờ cơm cạn nước, nhìn lửa bập bùng sáng cả căn bếp, nghe tiếng củi nổ tí tách.

lại gợi về một nỗi niềm xưa cũ.

Quốc chợt nghĩ, có lẽ đây chính là “hạnh phúc trong nghèo khổ”.

Một thứ niềm vui giản đơn, ít khi thất rõ khi mình đang sống giữa nó.

Trong lúc chờ cơm, Quốc mở tủ gỗ nhỏ, lục tìm xem trong nhà còn gì ăn được.

Chỉ thấy mấy quả trứng gà đặt trong rổ, ngoài vườn có ít rau xanh mẹ cắm xuống luống.

Thời ấy chưa có tủ lạnh như sau này, không thể tích trữ thịt cá như ở thành phố.

Muốn ăn gì, người nhà phải tự tay hái, tự tay nấu, chẳng có khái niệm “dự trữ” cho nhiều ngày.

“Chỉ trứng với rau thôi cũng đủ rồi.

Quốc tự nhủ, vừa chuẩn bị dao thớt, rửa rau sơ qua, vừa tính toán lát nữa đợi mẹ về mới nấu lên cho nóng.

Xong xuôi, Quốc lau tay, đi lên nhà trên bật ti-vi.

Cái màn hình vuông nhỏ phát ra ánh sáng mờ mờ, bộ phim tối nay là một phim cũ, cậu đã từng xem trọn vẹn một lần.

Khi còn nhỏ, mỗ tối hóng phim là niềm vui lớn nhất, từng tập từng tập đều chờ mong, đến nỗi ký ức về mấy nhân vật vẫn còn nguyên.

Thế nhưng bây giờ, ngồi nhìn lại, Quốc thấy lòng mình trống rỗng Ngày nay, internet đầy rẫy phim ảnh, muốn xem gì cũng có, chỉ cần một cú nhấp chuột.

Cái gì cũng dư dả, quá nhiều, thành ra mất đi sự quý giá ban đầu.

Những thứ từng làm cậu háo hức, nay chỉ còn là thói quen, thậm chí chán chường.

Một bộ phim từng đủ khiến cả làng xôr xao, giờ đây chẳng còn gì lạ nữa.

Bình luận


Không có bình luận.

Cấu hình

Báo cáo

Bình luận

Đang tải...

Bạn cần đăng nhập để bình luận.

Đăng nhập