Không ai lớn lên ở vùng nông thôn thập niên chín mươi mà không từng trải qua một hoặc hai chuyện nực cười, dở khóc dở cười liên quan đến quần áo, tã lót hay những thứ đồ dùng sinh hoạt chắp vá.
Ký ức về quãng thời gian đi học mẫu giáo của tôi, kỳ lạ thay, lại không in đậm những buổi múa hát tập thể hay những lần xếp hình khối gỗ sặc sỡ trên sân trường.
Nó bị đóng đinh bởi một sự kiện đặc biệt, một
"vết nhơ"
lịch sử theo tôi suốt những năm tháng ấu thơ, trở thành chủ đề đàm tiếu đầy ái ngại xen lẫn buồn cười của cả gia đình và cô dì chú bác.
Đó là một ngày dở dang vào cái thuở tôi tầm bốn, năm tuổi gì đó.
Lớp mẫu giáo của làng thực chất chỉ là một gian nhà gửi trẻ tạm bợ nằm kề bên đình làng, dưới bóng trùm rười rượi của cây đa cổ thụ.
Sàn nhà láng xi măng thường xuyên đọng nước ẩm ướt vào mùa nồm, xung quanh rào bằng dậu tre thưa thớt.
Hàng ngày, đám phụ nữ bận rộn đi cấy, đi gặt hay ra chợ buôn thúng bán bưng sẽ quẳng con cái vào cái
"vành đai"
ấy cho một, hai cô trông trẻ quán xuyến, chiều muộn lại lóc cóc chạy xe đạp tới đón về.
Hôm đó, trời mưa lâm thâm, cái rét mướt ẩm ương của mùa xuân quê Bắc hắt qua từng khe cửa.
Trong nhà tôi vắng tanh vắng ngắt.
Bố mẹ đi gom cá ở các bến từ tinh mơ, hai bà chị lớn thì đã tới trường học.
Tôi lủi thủi bò loanh quanh ở hiên nhà, chán nản vọc đống cát xây dang dở.
Có lẽ, những hạt phù sa ẩm lạnh kia đã kích thích cơn buồn vệ sinh đến bất chợt.
Tệ hại hơn, do cái bụng yếu ớt của một đứa trẻ thành thị lọt thỏm giữa nông thôn, cộng thêm bát cháo lòng buổi sáng, tôi đã cho ra đời một vụ
"bùng nổ"
kinh hoàng mà người đời thường gọi là vãi cả ra quần.
Chiếc quần đùi kẻ sọc thân thuộc ướt sũng, bốc mùi hỏa lò phảng phất qua cơn gió.
Tôi sợ hãi, mếu máo gọi hai tiếng
"Mẹ ơi!"
nhưng đáp lại chỉ có tiếng lợn éc éc đòi ăn dưới chuồng.
Đứng run rẩy một góc nhà, nước mắt tôi bắt đầu tuôn trào, hòa lẫn với sự dấp dính khó chịu bám rịt ở mông non.
May mắn (hoặc xui xẻo)
làm sao, đúng lúc ấy thím hàng xóm – tên là thím Nụ, một người đàn bà đon đả hay cười túm chiếc nón cời chạy tạt qua sân để rủ mẹ tôi đi chợ.
Chợt nhận ra cục nhão lầy lội khóc lóc ở xó cửa là thằng An
"bột"
, thím vừa bịt mũi vừa la oai oái:
"Trời đất quỷ thần ơi!
Ở nhà một mình mà ra nông nỗi này hả con?
Để thím lột rửa cho không lạnh cóng bây giờ!
"Với tốc độ chớp giật của người quen làm lụng, thím Nụ lôi xềnh xệch tôi ra giếng khoan, kéo tay bơm ào ào mấy chậu nước lạnh buốt, dội sạch sẽ đống hỗn độn từ trên xuống dưới.
Vừa rửa, thím vừa suýt xoa xoa vuốt làn da trắng bóc của tôi, miệng mắng yêu:
"Con trai nhà ai mà trắng trẻo như khúc giò thế này, uổng công mẹ mày không nặn thành con gái!"
Sạch sẽ thơm tho dẫu có chút tím tái vì buốt giá, tôi co rủm lại đứng chờ thím Nụ đi lấy đồ mặc.
Nhưng ác mạo thay, do đợt mưa dầm dề rỉ rả kéo dài ròng rã nửa tuần, dây phơi nhà tôi trống không.
Chiếc mẻ quần áo trẻ con duy nhất của tôi hoặc còn đang vứt trong thau chưa giặt, hoặc ẩm mốc chưa thể mặc được.
Thím Nụ lục tung cái tủ buồng, vơ cào tứ tung nhưng không tìm đâu ra nổi một cái quần tươm tất vừa vặn với tôi để bận tới trường mẫu giáo.
"Chết chửa, lát nữa lớp mẫu giáo người ta đánh đàn hát múa rồi, không nhanh là cô giáo nhốt mắng cho đấy!"
– Thím Nụ chép miệng.
Nói đoạn, thím vội chạy thẳng tắp về nhà mình ở sát vách, lục lọi một chốc rồi mang sang.
một chiếc váy.
Đó là một chiếc váy màu hồng nhạt, chất vải pha nilon thô ráp mằn mặn, viền đăng ten rủ xuống từng lớp xếp ly chói lọi.
Vốn dĩ, đó là chiếc váy của con Na – con gái thím Nụ, lớn hơn tôi một tuổi, thuộc hàng dĩnh ngộ và tinh quái nhất xóm.
Thím bèn trải chiếc váy ra trước mặt tôi, cười tít mắt đầy hợp lý:
"Thôi An ạ, con chịu khó mặc tạm cái váy chị Na.
Da con trắng, môi con đỏ, bận vào ai cũng tưởng tiểu thư.
Lên lớp ngồi mím môi lại đừng đi vệ sinh nữa, chiều mẹ con về thím bảo mẹ trả quần nhé!
"Một cậu bé nhút nhát, nhạy cảm như tôi có biết phản kháng là gì đâu.
Dẫu linh cảm có điều sai trái và rơm rớm muốn khóc, tôi đành cam chịu đứng yên để thím tròng chiếc váy hồng nhũ tương qua đầu, kéo khóa rẹt một đường ngang dọc sóng lưng.
Bộ đồ vừa vặn đến ngạc nhiên.
Cỡ cổ tay phồng lên điệu đà tệp hoàn toàn vô thân hình thanh mảnh, yểu điệu của tôi.
Thím Nụ nhìn tôi, phá lên cười nắc nẻ rồi lấy nón che mưa, bế xốc tôi chạy một mạch dọc đường làng để giao tôi vào lớp mẫu giáo.
Bạn có thể tưởng tượng được cảnh tượng của một ngày đầu xuân xám xịt, giữa bầy con nít đầu tóc rối bù, đứa cởi trần, đứa thân nam mặc quần hoa lưng chun.
sự xuất hiện của tôi thực sự đã tạo nên sự chấn động.
Cô giáo trông trẻ ngỡ ngàng, dụi mắt mấy lần mới dám nhận ra tôi.
"Ủa, bé An nhà Mười, sao hôm nay mẹ lại cho mặc váy bánh bèo đi học thế kia?"
Đám trẻ con vây quanh tôi, tròn xoe mắt nhìn rặng viền đăng ten, rồi đưa những ngón tay đen đủi chỉ trỏ vào tôi, phá lên những tràng cười sằng sặc ngây ngô.
Tôi run lên bần bật, đứng dựa lưng vào vách tường nhám lạnh, cúi gằm mặt xuống đất không dám ngước lên.
Tôi thu tay chắp chặt góc váy, mắm môi cắn răng cố nuốt trôi cục nghẹn nơi cổ họng.
Nhưng rồi, như một bản năng mặc định của con nít khi cảm nhận sự khác biệt, chiếc vỏ bọc bỗng chốc rạn vỡ.
Những giọt lệ túa ra quanh khóe mi, chực chờ rơi lã chã xuống.
Tiếng hức hức phát ra, mềm oặt, nức nở.
Ngày hôm đó ở lớp mẫu giáo thực sự dài đằng đẵng.
Vì sợ bị trêu chọc làm nhục thêm, tôi chẳng đoái hoài gì đến bữa cơm trưa tập thể, cũng không màng chơi chuyền bóng hay đuổi bắt.
Tôi ngồi thu mình nơi góc chiếu sờn, gập đầu gối lại sao cho chiếc tà váy hồng bao tròn, giấu đi đôi bàn chân lạnh buốt.
Bọn trẻ xung quanh hết nhảy múa lại lén kéo góc váy của tôi rồi bỏ chạy thục mạng.
Còn tôi, tuyệt đối không đuổi theo, khóc âm ỉ suốt mấy tiếng đồng hồ chỉ mong bóng mẹ xuất hiện trước cánh cổng sắt rỉ sét.
Tuy vậy, nếu như đứa trẻ khác sẽ ghi hận sâu sắc, cào xé vết thương lòng mà thù ghét thím Nụ hay bọn bạn khép kín.
Nhưng ở tôi, thứ mầm mống lạnh lùng mọc mầm từ khi chào đời lại hoạt động một cách lạ kỳ.
Ngay trong khi nước mắt giàn giụa, dẫu trong lòng hốt hoảng bối rối, tôi nhận ra sự nhạo báng đó chẳng vương lại nỗi đau thể xác nào.
Cái mớ âm thanh hỗn độn của cười đùa đó trôi tuột khỏi tôi giống như giọt nước rơi trên tàu lá khoai môn, chẳng để lại dấu vết.
Chiều muộn dông dài, khi mẹ hốt hoảng đạp chiếc mini lạch cạch chở tôi về, trong giỏ xe là chiếc quần đùi mới mua ở chợ, tôi ngoan ngoãn chui vào buồng thay đồ, thản nhiên trả chiếc váy xếp ly hồng ấy lại cho thím Nụ mà không một câu oán thán, không cả một lời than thở với ba mẹ.
Phải, tôi đã khóc vì sợ hãi, vì thấy mình lệch quỹ đạo.
Nhưng tôi lại quên bẵng đi nỗi sợ ấy ngay ngày hôm sau.
Mọi thứ lố lăng hay tủi nhục ấy chẳng bám sâu vào tiềm thức, chẳng cấu xé tâm tư tôi.
Sự việc chiếc váy
"vay mượn"
của con gái ấy về sau đã trở thành giai thoại vang rền mỗi lề đường xó chợ khi mọi người rảnh rỗi bàn luận về cái ngoại hình lả lướt của tôi.
Tôi chỉ cười trừ mỗi khi họ nhắc lại, chẳng buồn giải thích hay tỏ vẻ nhục nhã.
Với tôi, những người xung quanh – bạn bè, những bà dì, kể cả thím Nụ – vốn chỉ là những ảo tượng vụt qua màn hình tivi chập nhiễu.
Có cũng được, mất cũng chẳng sao;
cười nhạo cũng thế, yêu thương cũng vậy.
Cái triết lý vô niệm, vô cầu ấy đã tự nảy mầm trong thằng nhóc mặc váy năm tuổi, chờ ngày hút cạn nhịp đập của lồng ngực mình, dẫn lối cho những bước chân lạc loài của Quang An bước vào tuổi lớp một.
Hủy
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.
Không có bình luận.
Đang tải...
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Ghi nhớ đăng nhập